(Ngày ngày viết chữ) Cổ mỹ từ là loạt bài tập hợp những từ có sắc thái cổ nom rất đẹp trong tiếng Việt. Lưu ý, “Cổ mỹ từ” chỉ là một tên gọi mà Ngày ngày viết chữ đặt cho những từ này, không phải khái niệm “từ cổ” đúng nghĩa của ngôn ngữ học.
Tất cả các cổ mỹ từ mà Ngày ngày viết chữ sưu tầm, lý giải đều được cập nhật tại chuyên mục này theo trật tự ABC. Quý bạn đọc vui lòng không sao chép, không sử dụng lại khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản của Ngày ngày viết chữ.
Bài này tập hợp các Cổ mỹ từ theo trật tự từ H đến O. Còn đây là đường dẫn dẫn đến các bài viết theo trật tự:
Từ A đến G | Từ P đến Y
Câu thơ trên trích từ bài thơ thứ ba trong “Dữ tô vũ” (与苏武诗之三), là một loạt ba bài thơ của Lý Lăng (thời nhà Hán), nội dung nói về những cảm xúc, những nỗi lòng khi chia tay, ly biệt. Chính từ câu thơ này mà từ “hà lương” sau đó được dùng với nghĩa nơi từ biệt.
Trong thi ca Việt Nam, “Chinh phụ ngâm khúc” phần “Xuất chinh”, bản dịch của Đoàn Thị Điểm có câu:“Hà lương chia rẽ đường này,Bên đường trông lá* cờ bay ngùi ngùi.”
(*) Có bản viết “trông bóng cờ bay”.
★ Hạo nguyệt ★
“Hạo nguyệt”, chữ Hán là 晧月, trong đó:- Hạo là sáng sủa;- Nguyệt là mặt trăng.
“Hạo nguyệt” là trăng sáng.
Trong bài Ly Bắc Kinh của Hồ Chí Minh có câu:Hạo nguyệt thuỳ phân vi lưỡng bán,Bán tuỳ cựu hữu, bán chinh phu.皓月誰分為兩半,半隨舊友半征夫。Trăng sáng ai xẻ làm đôi,Nửa theo bạn cũ, nửa soi khách đường.
Đào Phương Bình dịch thơ như sau:“Chuyện trò đêm trước dưới đèn chong,Gió sớm hôm nay vó ngựa lồng.Mắt ngóng luống treo trời cửa bắc,Lòng về há bận suối miền đông.”
Bài “Đề đạo nhân vân thuỷ cư kỳ 5” của Vua Lê Thánh Tông thì có câu:“Thanh sơn điệp điệp thuỷ thung dung,Nhất phiếm khinh phàm quải hiểu phong.”nghĩa là:“Non xanh lớp lớp, dòng nước mênh mông,Một mảnh buồm nhẹ tênh treo trong gió sớm.”
Phan Huy Chú trong bài “Túc Tương Âm kỳ 2” thì có câu:Hàn vũ đinh châu tán hiểu yên,Thương giang nhất vọng thuỷ liên thiên.寒雨汀洲散曉煙,滄江一望水連天。Nghĩa là:Mưa lạnh trên bãi sông xua sương khói ban mai,Nhìn dòng sông xanh tiếp nối với bầu trời.
Nguyễn Trường Tộ trong bài “Cần Giờ phong cảnh” thì viết:Nhân gia lao lạc tạp tây triền,Nhất vọng bình lâm trấn hiểu yên.人家牢落雜西廛,一望平林鎮曉煙。Nghĩa là:Có người lưu lạc đến miền Tây,Rừng xanh bát ngát ngăn làn khói ban mai.
Lê Văn Hoè trong “Truyện Kiều Chú giải” (1952) cho biết “nhiều bản Pháp văn dịch ‘hồng quân’ ra làm ‘ciel rouge’ (trời đỏ) hay ‘seigneur rouge’ (vua đỏ). Dịch như thế là sai hoàn toàn vì hiểu lầm “hồng” trong “hồng quân” là sắc đỏ”.
Một số tác phẩm khác có dùng từ “hồng quân” với ý nghĩa kể trên:
- Cô tùng – Ngô Thì Nhậm:Ngạo tận tuyết sương hoàn tự tín,Hồng quân phú dữ bất vi bần.傲盡雪霜還自信,洪鈞賦予不為貧。
- Đệ tứ cảnh: Thư uyển xuân quang – Thiệu Trị:Yếm tiếu đa lao yết cổ thôi,Hồng quân nhất chuyển bách hoa khai.厭笑多勞羯鼓催,洪鈞一轉百花開。
- Bích Câu kỳ ngộ – Khuyết danh Việt Nam“Thịt xương gửi đám Diêm phù,Sinh sinh hóa hóa trong lò hồng quân.”
____(*) Xin phân biệt với từ “hồng quân” dùng để chỉ quân đội cách mạng (vô sản) ở một số nước xã hội chủ nghĩa như “Hồng quân Liên Xô”.
Trong bài tựa của “Việt Nam thế chí” (Hồ Tông Thốc – đời nhà Trần), có một đoạn rất hay có dùng từ “huyền vi” này:
“Chuyết thời vong kỳ cố lậu, thuật giản ngụ lược kỳ sở di; cái dục sĩ hậu chi tiến bộ bác cách cao minh giả, lãng nhật ức tình, thứ hồ tri sở tiên hậu, vô tự thác ngộ. Thảng nhược, chính chư kỳ linh, công chư bút đoan, tuớc bác nghiên tinh, san hành vu thế, sử nhân nhân động sát cổ kim, mặc hội huyền vi, kỳ diệc truyện trung chi sử ký dư! Thị vi tự.”
Học giả Trần Văn Giáp (1902 – 1973) dịch như sau: “Tôi quên mình hẹp hòi quê hủ, chép sơ lược những chuyện ngụ ngôn, những điều truyền thuyết, muốn đợi các bậc cao minh học rộng tiến bộ sau này, nhận rõ xét kỹ mới có thể biết được trước sau mà không tự nhầm lẫn. Nếu có ai sửa lại cho tập này được đúng, cho lời chép được hay, đẽo gọt kỹ càng, rồi đem in ra, để mọi người thấy rõ việc xưa nay và hiểu thấu lẽ huyền vi, thì đó cũng là một bộ sử ký trong các truyện cổ chăng? Vậy làm tựa.”
Tiếc là tác phẩm “Việt Nam thế chí” mà tác giả mong được đem ra đẽo gọt kỹ càng để có cơ may thấu lẽ huyền vi đã thất truyền, chỉ còn lưu lại mỗi bài tựa này.
★ Hy luân ★
Hy luân, chữ Hán là 曦輪, trong đó:
– Hy là nắng, nắng ban mai, ánh bình minh, ánh sáng mặt trời. (Xin phân biệt chữ hy – 曦 này với chữ hy – 希 thường gặp trong “hy vọng” hoặc “hy hữu” cũng như các chữ hy khác.)- Luân nghĩa đen là cái bánh xe, mở rộng nghĩa chỉ cái gì hình vòng tròn đều gọi là “luân” (Hán Việt từ điển – Đào Duy Anh) và mặt trăng lẫn mặt trời đều có thể gọi là “luân”.
“Hy luân” (cũng có thể viết là “hi luân”) nghĩa là mặt trời, là vầng dương. Bài “Bắc quy quá Cổ Phao tự” của Trần Danh Án có câu:
Nam vọng thần loan hà xứ thị,Hy luân nhất phiến dũng thương lang.南望宸鑾何處是,曦輪一片湧滄浪。Nghĩa là:Nhìn về phương nam, xe vua không biết ở phương nào,Chỉ thấy một vầng mặt trời nổi lên trên biển xanh.
Bài “Mùa thu đi chơi thuyền dưới trăng” (khuyết danh, Dương Quảng Hàm đề là “Vô danh thị”) có câu:“Xinh thay tiết thu thiên quang cảnh,Khi lạc hà giãi bóng tà dương.Một con thuyền cạy bát bên giang,Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.”
★ Lạc huy ★
“Lạc huy”, chữ Hán là 落暉, trong đó:
– “Lạc” là rụng, rơi, như “lạc hoa*” là hoa rụng, “lạc vũ” mà mưa rơi, cũng dùng để chỉ mặt trời, mặt trăng lặn, như “lạc nguyệt*” là trăng lặn.- “Huy” là ánh sáng mặt trời, như “tà huy” là ánh mặt trời chiều, ánh nắng chiều nghiêng nghiêng. Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có câu: “Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ, Quán thu phong đứng rũ tà huy.”
“Lạc huy” nghĩa là “ánh mặt trời khi gần lặn”.
Bài Khốc vong kỹ của Trần Danh Án có câu rằng:Hàn quyên dạ dạ minh cô nguyệt,Đề điểu thanh thanh điếu lạc huy.寒鵑夜夜鳴孤月,啼鳥聲聲吊落暉。Tạm dịch:Tối tối trăng côi xui quyên gọi,Vang vang chim hót tiễn chiều trôi.
Đồng nghĩa với “lạc huy” còn có “lạc chiếu – 落 照”, “tịch chiếu – 夕照”, “tịch dương – 夕陽”, v.v..
___________* Cũng dùng “hoa lạc”, “nguyệt lạc”.
★ Lạc thiên ★
Hát nói của Nguyễn Công Trứ có câu rằng:Đấng anh hùng yên phận lạc thiên,So trời đất cũng nhất ban xuân ý.
“Lạc thiên” (樂天), Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là “yên vui đạo trời”. Chữ “lạc” nghĩa là vui, thích, như “an lạc – 安樂”, “cực lạc – 極樂”. Chữ “thiên” nghĩa là trời, ông trời, tự nhiên, cái có sẵn, như “thiên không – 天空”, “thiên sinh – 天生”.
Hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ có thể hiểu là đấng anh hùng yên phận mình vui đạo trời, cũng như trời đất cùng một lòng vui xuân vậy.
★ Lăng thần ★
“Lăng thần”, chữ Hán là 凌晨, trong đó:
– Chữ “lăng” này có nhiều nghĩa như x:âm ph:ạm, vượt qua, bốc lên,… Trong từ “lăng thần”, Đại tự điển Hán-Việt của Trần Văn Chánh giảng “lăng” có nghĩa là gần, sát.- “Thần” là buổi sáng sớm.
Liên quan hai chữ “lăng” và “thần” này, trong sách “Cổ mỹ từ” đã xuất bản mình có giới thiệu từ “lăng vân” nghĩa là cao vượt qua mây, nghĩa bóng chỉ việc cao cả, to tát và từ “lương thần” nghĩa là ngày đẹp trời, ngày tốt, ngày lành.
“Lăng thần” ý chỉ lúc gần sáng, sắp sáng, buổi hừng đông.
Từ này mình gặp khi đọc “An Huy đạo trung” (Trên đường đi An Huy) của Nguyễn Du, thơ rằng:
Đề nha á á loạn lăng thần,Từ bắc Từ nam hiểu sắc phân.啼鴉啞啞亂凌晨,徐北徐南曉色分。Tạm dịch:Tiếng quạ xáo xác rộn buổi mai,Từ Châu* nam bắc rõ sắc ngày.___________Chữ 徐 (Từ) trong bài thơ này chỉ địa danh Từ Châu. Bài “An Huy đạo trung” nằm trong tập thơ “Bắc hành tạp lục”, Nguyễn Du sáng tác khi đi sứ Trung Quốc.
Truyện thơ “Dương Từ Hà Mậu” của Nguyễn Đình Chiểu viết rằng:“Hôm nay là bữa lương thần,Sửa sang vị thuốc lo phần luyện đan.”
Bài “Cuối xuân” trong “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi thì có câu:“Tính từ gặp tiết lương thần,Thiếu một hai mà no chín tuần.”Sách “Nguyễn Trãi toàn tập” (Viện Sử học, NXB Khoa học và Xã hội, 2020) giảng “lương thần” là thời tiết tốt, “từ gặp tiết lương thần” tức là từ đầu mùa xuân. Còn câu sau ý là còn thiếu một hai tuần (một hai chục ngày) nữa thì đủ (no) chín tuần, tức chín chục ngày của mùa xuân.
Lưu ý, xin phân biệt với từ “lương thần” 良臣 nghĩa là “người tôi trung thành” hoặc “lương thần” 良神 nghĩa là những vị thần lành.
“Tuỳ Chương lưu hậu Tân Đình hội tống chư quân” của Đỗ Phủ có câu “Hành tử đắc lương thì”, nghĩa là người tới gặp được buổi tốt lành (ở đây ý là tới dự hội ở Tân Đình và gặp được thời tiết tốt).
“Biệt thi kỳ 1” của Lý Lăng thì viết “Lương thì bất tái chí”, nghĩa là những ngày tốt đẹp bên nhau khó có lại lần nữa.
★ Lương tiêu ★
“Lương tiêu”, chữ Hán là 良霄, trong đó:
– Lương là tốt, đẹp, lành, hay, giỏi, là chữ “lương” trong “lương duyên 良緣”, “lương thiện 良善”, “lương y 良醫”,…
– Tiêu là khoảng trời trống, cũng dùng để chỉ trời hoặc mây. Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “cao nhập vân tiêu 高入雲霄” nghĩa là cao đến tận trời.
“Lương tiêu” nghĩa là bầu trời đẹp. Trong bài Bộ Minh nhân Tư Minh phủ công sai viên của Nguyễn Bỉnh Khiêm có câu:
Huống trị bắc nam vô sự nhật,Nhất thiên minh nguyệt cộng lương tiêu.
况値北南無事日,一天明月共良霄。
(Huống chi đương lúc bắc nam không có chuyện gì để lo,Bầu trời đẹp, ánh trăng sáng toả khắp.)
★ Nghênh hy ★
Nghênh hy, chữ Hán là 迎曦, trong đó:
– Nghênh là đón, đón tiếp, như nghênh tân (迎賓) là đón khách, nghênh phong (迎風) là đón gió, hóng gió.
– Hy là nắng, nắng ban mai, ánh bình minh, ánh sáng mặt trời. (Xin phân biệt chữ hy – 曦 này với chữ hy – 希 thường gặp trong “hy vọng” hoặc “hy hữu” cũng như các chữ hy khác.)
“Nghênh hy” (cũng có thể viết “nghênh hi”) nghĩa là đón nắng, đón nắng mai. Bài “Giang tự tình du” của Ngô Thì Nhậm có câu:
Cận thuỷ lâu cao chung ảnh tế,Nghênh hy đạo khiết lý trần khinh.
近水樓高鍾影細,迎曦道潔履塵輕。
Nghĩa là:
Lầu cao bên mé nước, bóng chuông nho nhỏ,Đường sạch đón nắng mai, bụi giày nhè nhẹ.
Trên đây là các Cổ mỹ từ theo trật tự từ H đến O. Còn đây là đường dẫn dẫn đến các bài viết theo trật tự:
Từ A đến G | Từ P đến Y