Sách Tiếng Việt 9 (TV9) có ra cho học sinh một bài tập như sau:
3. Tìm hiểu quan hệ (phụ thuộc, không phụ thuộc) giữa các đoạn văn trong bài Anh công nhân da đen Hô-xê […] và vẽ lược đồ quan hệ giữa chúng. (1)
Bài văn trên như sau:
ANH CôNG NHâN DA ĐEN Hô-Xê
Đầu năm 1921, một cuộc bãi công lớn của công nhân nổ ra ở Bra-xin. Một chiếc tàu vừa cập bến Gia-nây-rô. Thủy thủ trên tàu chưa biết rằng các bạn mình ở đây đang đấu tranh chống bọn chủ.
Một người da đen tham gia bãi công tên là Hô-xê muốn lên tàu báo tin cho các thủy thủ biết. Trên bến, Hô-xê gặp một tên cảnh sát ngăn anh lại. Hô-xê cố nài. Tên cảnh sát chẳng thèm trả lời nữa, rút súng lục ra bắn. Hô-xê tránh kịp và lẹ như chớp, anh túm lấy áo thằng đội, quẳng nó xuống nước. Có đến năm chục tên cảnh sát có vũ khí đổ xô đến đánh Hô-xê. Rồi sau chúng lôi anh ra tòa. Anh bị kết án ba mươi năm khổ sai.
Vừa được tin xử, anh em công nhân lập ngay một ủy ban bảo vệ. Một mặt họ mướn nhiều trạng sư cãi cho bạn. Mặt khác, họ tổ chức những cuộc biểu tình phản đối trong cả nước. Dư luận công phẫn đến mức nhà chức trách phải mang vụ án ra xét lại. Một vạn rưởi công nhân dự phiên tòa kéo dài suốt đêm. Phiên tòa đến 4 giờ sáng mới kết thúc. Tòa xử trắng án.
Bản tuyên án được hoan nghênh bằng những tiếng vỗ tay vang như sấm. Và Hô-xê, anh chiến sĩ da đen, ngả mình trong tay những người bảo vệ mình, các công nhân da trắng.
Vậy là, dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là có thật mà thôi: tình hữu ái vô sản.
(Nguyễn Ái Quốc) (1)
Bài tập trên không có gì đáng bàn nhiều. Điều đáng bàn chính là những lời hướng dẫn học sinh làm bài tập trên của sách Bài tập Tiếng Việt 9 (2) (BtTV9). Đáng bàn vì sách này có một tầm ảnh hưởng rất sâu rộng. Người biên soạn nó là một trong hai tác giả thực hiện chỉnh lí sách TV9. Cho nên dù không ai bắt phải coi nó là cuốn sách tham khảo chính thức nhưng thực chất nó là một cuốn sách tham khảo gần như bắt buộc với mọi giáo viên dạy môn Tiếng Việt 9.
1. Sách BtTV9 đã hướng dẫn học sinh nhận thức sai bố cục của bài văn trên.
Có thể dễ dàng nhận thấy bài trên gồm hai phần:
– Phần 1: Câu chuyện anh công nhân da đen Hô-xê tham gia bãi công cùng công nhân da trắng ở Bra-xin năm 1921.
– Phần 2: Nhận xét mà người kể chuyện rút ra từ câu chuyện.
Các chi tiết trong câu chuyện (như anh Hô-xê, một người da đen, tự nguyện hết mình, hết sức tham gia bãi công cùng công nhân da trắng, khi anh bị kết án khổ sai thì công nhân da trắng đang bãi công lại hết lòng, hết sức đấu tranh bảo vệ anh rồi họ vỗ tay như sấm để hoan nghênh anh khi anh được trắng án) chính là những luận cứ có tính chất tiền đề để từ đó suy ra kết luận trong phần 2: dù màu da có khác nhau nhưng chỉ có hai giống người: bóc lột, bị bóc lột và chỉ có một tình hữu ái duy nhất: tình hữu ái vô sản.
Như vậy, phần 1 chính là phần tiền đề, nó là cơ sở thực tế để từ đó suy ra một nhận xét. Nhận xét này được suy ra từ câu chuyện tiền đề nên phần 2 chính là phần kết luận. Bài văn có cấu trúc hai phần: Phần tiền đề và phần kết luận.Phần tiền đề được ghi trong 4 đoạn văn; phần kết luận được ghi chỉ trong một đoạn văn cuối cùng. (Từ đây, năm đoạn văn trên sẽ được gọi lần lượt là các đoạn văn I, II, III, IV và V). Thế mà sách BtTV9 ở trang 103, 104 lại hướng dẫn như sau:
Giữa 5 đoạn văn ở bài Anh công nhân da đen Hô-xê tồn tại những quan hệ (không phụ thuộc, phụ thuộc) như sau:
Đoạn văn [I] có tư cách phần mở bài.
Đoạn văn [II, III, IV] có tư cách phần thân bài.
Đoạn văn [V] có tư cách phần kết bài.
Trong đó, các đoạn văn thân bài [II, III, IV] phụ thuộc vào đoạn văn mở bài [I]: diễn giải sự việc nêu ở phần mở bài.
Theo chúng tôi, đây là một hướng dẫn sai.
Bài văn thông thường có ba phần mở bài, thân bài, kết bài. Học sinh lớp 9 cần luyện tập trước tiên kiểu bài văn có bố cục như thế. Nhưng không phải mọi bài văn đều có thể quy vào một kiểu bố cục như vậy. Có những bài có kết cấu hai phần, có những bài có kết cấu bốn phần lại có những bài có kết cấu năm phần hoặc nhiều hơn nữa. Những bài văn chỉ gồm hai phần thường có kết cấu hoặc là nêu – báo hoặc là thực – luận hoặc là tiền đề – kết luận. Bài Ngắm trăng của Hồ Chí Minh là một bài có cấu trúc hai phần nêu – báo. Bài Cảm tưởng đọc Thiên gia thi của cùng tác giả là một bài có cấu trúc hai phần thực – luận. Bài có cấu trúc hai phần tiền đề – kết luận như bài văn đang xét cũng có thể được coi là một dạng thuộc cấu trúc hai phần thực – luận ấy.
Cần phải khẳng định cấu trúc hai phần của bài Anh công nhân da đen Hô-xê và không nên hướng dẫn học sinh lớp 9 là bài văn ấy có cấu trúc ba phần. Nhiều thế hệ học sinh đã phải chấp nhận kiến thức sai cho rằng bài văn ấy có cấu trúc ba phần (Bản BtTV9 năm 2000 đã là bản tái bản lần thứ 7). Không nên để các lớp học sinh tiếp theo phải học theo kiến thức sai lạc ấy. Nếu chưa thể sửa chữa sách TV9 và BtTV9 thì cũng nên nhanh chóng làm một trong hai việc:
– hoặc là hướng dẫn các trường bỏ bài tập này vì nó có cấu trúc hai phần, không phù hợp với việc dạy những bài văn có cấu trúc ba phần thông thường;
– hoặc là đính chính và thông báo cho tất cả các Sở Giáo dục và Đào tạo biết để họ chỉ đạo các trường phổ thông cơ sở dạy lại cho đúng, nghĩa là không theo hướng dẫn của trang 103, 104 trong sách BtTV9.
Hình như người viết sách cũng thấy gượng gạo trong việc cho rằng bài văn đã dẫn có cấu trúc ba phần nên thay vì viết “Đoạn văn [I] là phần mở bài. Đoạn văn II là phần thân bài …” thì tác giả viết: Đoạn văn [I] có tư cách phần mở bài. Đoạn văn II có tư cách thân bài v. v… Tuy vậy, cái ngữ đoạn “có tư cách” ấy cũng không thể là chỗ biện minh cho một sự lầm lẫn. Đó là lầm lẫn giữa cấu trúc của một câu chuyện và một kết luận rút ra với cấu trúc của một bài văn gồm ba phần thường gặp trong nhà trường.
2. Sách BtTV9 hướng dẫn sai về mối quan hệ giữa các đoạn văn trong bài văn
Trong bài Anh công nhân da đen Hô-xê, đoạn văn I nêu ba sự việc: 1) công nhân Bra-xin bãi công lớn năm 1921; 2) một chiếc tàu cặp bến Gia-nây-rô; 3) thủy thủ trên tàu không biết gì về cuộc bãi công. Các đoạn văn II, III, IV kể về việc anh Hô-xê đấu tranh, bị bắt, bị kết án khổ sai, được công nhân da trắng bảo vệ, được trắng án… nghĩa là kể về những sự kiện tiếp nối ba sự việc được nêu trong đoạn văn I; chúng không “diễn giải” cuộc bãi công đã nổ ra như thế nào, không “diễn giải” con tàu cặp bến ra sao cũng không “diễn giải” việc thủy thủ không biết gì về cuộc bãi công trên bờ như thế nào. Nghĩa là các đoạn văn II, III, IV không hề diễn giải bất cứ một sự việc nào trong ba sự việc đã nêu ở đoạn văn I. Vậy mà sách BtTV9 vẫn viết: các đoạn văn II, III, IV … diễn giải sự việc nêu ở đầu bài. (?!) để rồi từ đó cho rằng các đoạn văn thân bài [II], [III], [IV] phụ thuộc vào đoạn văn mở bài [I]. Vậy cần phải hiểu quan hệ giữa các đoạn văn trong bài văn trên như thế nào?
Các nhà lí luận văn chương, thông qua phân tích hàng trăm truyện do nhiều tác giả viết nên đã đúc kết rằng: một truyện ở điển dạng thường gồm 5 phần: mở đầu, khai đoan, phát triển, điểm đỉnh, kết thúc. Theo họ:
– phần mở đầu là phần giới thiệu nhân vật và hoàn cảnh;
– phần khai đoan (mở mối) là phần giới thiệu xung đột, mâu thuẫn giữa các nhân vật trong hoàn cảnh ấy;
– phần phát triển là phần kể cụ thể các bước diễn biến từ thấp tới cao của mối mâu thuẫn được giới thiệu trong phần khai đoan;
– phần điểm đỉnh là phần kể về giai đoạn căng thẳng tuyệt đỉnh của sự phát triển mâu thuẫn;
– phần kết thúc là phần trình bày kết quả của sự phát triển nêu trong các phần trước.
Giáo sư Diệp Quang Ban cũng đã có lần giới thiệu ý kiến của các ông S. Garrod và A. Sanford cho rằng: tính chất hợp lí lắng sâu bên trong các ngữ pháp truyện là ở chỗ các truyện kể giản đơn trên khắp thế giới này dường như đều tuân theo một khuôn hình có thể, do một bộ hữu hạn các quy tắc lập nên. Ở bậc cao nhất, mỗi một truyện được tổ chức đúng đều có thể theo kiểu sau:
Truyện kể === môi trường + đề + cốt truyện + giải pháp
Quy tắc này có thể đọc như sau “một truyện gồm trong một môi trường, sau nó là một đề, một cốt truyện, và cuối cùng là giải pháp”. […] môi trường của truyện gồm trong nhân vật, vị trí, thời gian. Gồm trong được hiểu là được làm thành bởi… (4)(1)
Làm một so sánh nhỏ giữa hai quan niệm về cấu trúc truyện ở trên thì có thể thấy một mối tương quan gần như một đối một sau đây:
Mở đầu – Khai đoan – Phát triển – Điểm đỉnh – Kết thúc
Môi trường – Đề – [Cốt truyện] – Giải pháp
Vậy thì làm sao có thể dùng “con mắt ba phần” để xem xét những văn bản truyện là những văn bản thường tồn tại trong bốn, năm phần như trên?
Theo chúng tôi, bốn đoạn văn đầu bài Anh công nhân da đen Hô-xê dứt khoát phải được xem xét bằng “con mắt bốn năm phần”, bằng “con mắt của ngữ pháp truyện”. Bằng con mắt này, có thể thấy:
– Đoạn văn I gồm ba câu song hành giới thiệu nhân vật (công nhân Bra-xin), hoàn cảnh (đang bãi công năm 1921) và mâu thuẫn (thủy thủ trên tàu cặp cảng mà không biết về cuộc bãi công). Vậy đoạn văn I chính là đoạn văn mở đầu kết hợp khai đoan. Nói theo tác giả bài Ngữ pháp truyện và … đã dẫn, thì đó chính là đoạn văn nêu lên môi trường (gồm nhân vật, vị trí, thời gian) và cái gọi là đề.
– Đoạn văn II, III kể các bước diễn tiến của mâu thuẫn, của cuộc đấu tranh. Đó là các đoạn văn phát triển. Đoạn văn điểm đỉnh không có nhưng một chi tiết có thể được coi là điểm đỉnh, đó là việc bọn bóc lột da trắng thất bại và phải xử trắng án cho Hô-xê, người mà chúng vừa xử ba mươi năm khổ sai. Đây cũng chính là hai đoạn văn làm nên cốt truyện (theo cách quan niệm của hai ông S. Garrod và A. Sanford ở trên).
– Đoạn văn IV nêu kết cục của cuộc đấu tranh, công nhân hoan nghênh bản án, Hô-xê da đen ngả mình trong vòng tay của anh em công nhân da trắng. Đây chính là đoạn văn kết thúc (hoặc là đoạn văn nêu giải pháp như bài Ngữ pháp truyện và… quan niệm).
Như thế, nói theo TV9, bốn đoạn văn I, II, III, IV là bốn đoạn văn có quan hệ không phụ thuộc nhau. Chúng là một diễn trình gồm 5 giai đoạn tiếp nối theo thời gian: mở đầu, khai đoan, phát triển, điểm đỉnh, kết thúc hoặc chí ít cũng gồm bốn phần: môi trường, đề, cốt truyện, giải pháp. Chúng có quan hệ phụ – chính với đoạn văn kết luận V. Đến đây, hoàn toàn có thể nói bài Anh công nhân da đen Hô-xê không có phần mở bài trong tương quan với các phần thân bài, kết bài mà chỉ có phần mở đầu, khai đoan của một câu chuyện trong tương quan với các phần phát triển, điểm đỉnh, kết thúc của câu chuyện ấy. Bài văn cũng không có phần kết bài trong tương quan với phần mở bài mà chỉ có phần kết luận trong tương quan với phần tiền đề (tức là câu chuyện, cơ sở cho việc rút ra kết luận ấy).
Có thể hình dung quan hệ giữa các đoạn văn trong bài văn trên như sau:

Không thể tán đồng với cách hình dung của BtTV9 (trang 154) là:

Thiết nghĩ cách xem xét trên cần được áp dụng cho việc phân tích bố cục truyện nói chung. Bài Lão nhà giàu và con lừa (TV9, tiết 16, trang 53, 54) cũng không thể là ngoại lệ. Bài ấy cũng có phần mở đầu nêu môi trường; phần khai đoan giới thiệu đề, mâu thuẫn; phần phát triển nêu diễn tiến của mâu thuẫn; phần điểm đỉnh nêu giai đoạn phát triển tột cùng của mâu thuẫn và phần kết thúc nêu kết cục, giải pháp. Không thể bắt học sinh áp dụng lí thuyết bài văn ba phần để tìm phần mở bài và cho rằng truyện ấy không có phần kết bài được. (Xem TV9 trang 53, 54 và BtTV9 trang 87)
3. BtTV9 hướng dẫn sai về cấu trúc nội bộ đoạn văn III
Cấu trúc năm phần nói trên không phải chỉ tồn tại ở cấp độ toàn truyện mà còn tồn tại cả trong cấp độ của từng chặng diễn tiến của mâu thuẫn truyện. Đoạn văn II trong bài Anh công nhân da đen Hô-xê gồm tám câu. Các câu ấy lần lượt chính là các câu mở đầu, khai đoan, phát triển, điểm đỉnh và kết thúc. Cụ thể như sau:
– Câu 1: Giới thiệu nhân vật Hô-xê với hành động muốn lên tàu báo tin bãi công của công nhân trên bờ cho thủy thủ vừa cặp bến biết. === Đây là câu mở đầu
– Câu 2: Nêu mâu thuẫn giữa một bên là Hô-xê muốn lên tàu và một bên là tên cảnh sát ngăn anh lại. === Đây là câu khai đoan
– Câu 3, 4, 5, 6: Trình bày diễn tiến của mâu thuẫn từ việc Hô-xê nài nỉ, rồi bị bắn, rồi tránh kịp và quẳng tên cảnh sát xuống nước rồi năm chục cảnh sát đổ xô đến đánh Hô-xê. === Đây là các câu phát triển
– Câu 7: Cảnh sát lôi Hô-xê ra tòa. === Đây là câu điểm đỉnh
– Câu 8: Hô-xê bị kết án ba mươi năm khổ sai. === Đây là câu kết thúc
Đoạn văn III gồm 7 câu cũng có cấu trúc tương tự như thế. Cụ thể như sau:
– Câu 1: Nêu ý anh em công nhân được tin Hô-xê bị xử khổ sai (=== mở đầu), nêu mâu thuẫn giữa một bên là án khổ sai, một bên là công nhân lập một ủy ban bảo vệ (=== khai đoan). Câu 1 vừa làm chức năng mở đầu vừa làm chức năng khai đoan. === Câu 1 là câu mở đầu + khai đoan.
– Các câu 2, 3, 4, 5: Trình bày diễn tiến của mâu thuẫn, từ việc công nhân mướn trạng sư cãi cho Hô-xê đến tổ chức những cuộc biểu tình trong cả nước rồi dư luận công phẫn, nhà chức trách phải mang vụ án ra xét lại và một vạn rưỡi công nhân tham dự phiên tòa suốt đêm. === Bốn câu này là các câu phát triển.
– Câu 6: Phiên tòa kết thúc lúc 4 giờ 30 phút sáng. === Câu 6 là câu điểm đỉnh.
– Câu 7: Tòa phải xử Hô-xê trắng án. === Câu 7 là câu kết thúc
Trong cấu trúc năm phần ấy không có phần nào giữ vai trò nêu ý khái quát hay hạt nhân của toàn kết cấu. Nghĩa là chủ đề của mỗi đoạn văn trên không được thể hiện ở bất cứ một câu nào trong đoạn văn. Nói theo TV9 hai đoạn văn trên đều không có câu chốt, muốn biết chủ đề của đoạn văn, ta phải tự suy luận để rút ra. Thế mà sách BtTV9 lại hướng dẫn: […] đoạn văn III có câu chốt. Câu chốt là câu đứng đầu đoạn văn và ý tập trung ở phần in đậm: Vừa được tin xử, anh em công nhân cách mạng lập ngay một ủy ban bảo vệ (trang 118). Rõ ràng ngữ đoạn in đậm này không nêu lên được ý hạt nhân, ý khái quát của toàn đoạn văn. Ý khái quát của đoạn văn là: quá trình đấu tranh quyết liệt của công nhân Bra-xin khiến anh công nhân da đen Hô-xê từ chỗ bị xử ba mươi năm khổ sai đến chỗ được xử trắng án. Như thế, tác giả BtTV9 một lần nữa không thấy cấu trúc năm phần trong đoạn văn III này nên lại một lần nữa hướng dẫn sai.
Theo chúng tôi, chương trình Tiếng Việt 9 muốn dạy học sinh biết bố cục ba phần trong những bài văn thông thường. Học sinh trước tiên phải nhận biết được các bài văn có cấu trúc đó, biết được đâu là mở bài, đâu là thân bài, đâu là kết bài để từ đó có thể viết được những bài văn ngắn có cấu trúc ba phần chững chạc. Vậy thì tốt nhất là tìm chọn những bài văn, những trích đoạn thật sự có cấu trúc ba phần. Sự thực thì sách TV9 đã làm được điều này, đã cho học sinh tiếp xúc nhiều bài văn, trích văn như thế. Tiếc rằng, các tác giả sách đã thiếu cẩn trọng nên đã chọn cả những bài vốn là truyện hoặc có tính chất truyện được cấu trúc theo “ngữ pháp truyện” nghĩa là không cấu trúc theo ba phần mở bài, thân bài, kết bài như các bài văn thông thường khác. Rất mong trong các lần xuất bản sau, các tác giả cân nhắc để hoặc là bỏ đi những bài tập lấy trích văn là các truyện hoặc là cứ lấy nhưng là để phân tích và chỉ cho học sinh thấy rằng: văn bản ngoài cấu trúc ba phần còn có những loại cấu trúc có số phần không phải là ba như đã học. Làm được điều này, học sinh vừa được luyện tập nhận ra các bài văn có cấu trúc ba phần vừa có điều kiện ngộ ra rằng còn có nhiều kiểu cấu trúc văn bản phong phú khác nữa.
Nguyễn Hữu Chỉnh
Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 9 / 2003
(1) Lê Cận, Nguyễn Quang Ninh (biên soạn), Diệp Quang Ban, Hồng Dân (chỉnh lí) – Tiếng Việt 9 (Tái bản lần thứ 10) – Nxb GD, 2000, trang 59
(1) Dẫn theo Bài tập Tiếng Việt 9, trang 102, 103. Lí do: Sách này có sửa Tiếng Việt 9 cho văn chuẩn mực hơn (Tiếng Việt 9: Hô-xê tránh kịp và lẹ như chớp, túm lấy áo, quẳng xuống nước / Bài tập Tiếng Việt 9: Hô-xê tránh kịp và lẹ như chớp, túm lấy áo thằng đội, quẳng nó xuống nước.)
(2) Diệp Quang Ban – Bài tập Tiếng Việt 9 (Tái bản lần thứ bảy) – Nxb GD, 2002
(1) Diệp Quang Ban – Ngữ pháp truyện và một vài biểu hiện của tính mạch lạc trong truyện – Ngôn ngữ số 10 (157) /2002