Trung tâm Văn bút Việt Nam

Mở đầu Kinh Thi là bài Thi Cưu tả cảnh chim thư cưu như sau:

Quan quan thi cưuTại hà chi châuYểu điệu thục nữQuân tử hảo cầu.

關雎

關 關 雎 鳩

在 河 之 洲

窈 窕 淑 女

君 子 好 逑

Dịch nghĩa:Đôi chim thưu cưu hót họa nghe quan quan,Ở trên cồn bên sông.Người thục nữ u nhàn,Phải là lứa tốt của bậc quân tử.

Quan quan kìa tiếng thư cưu

Bên cồn hót họa cùng nhau vang dầy.

U-nhàn thục-nữ thế này,

Xứng cùng quân tử sánh vầy lứa duyên.

Tản Đà -Nguyễn Khắc Hiếu chủ trương kiến giải bài này là ca ngợi về Vũ Vương và bà vợ kế. Bài Quan thư có trước, chuyện ông Vũ Vương lấy vợ lập gia đình có sau. Nói bài Quan thư kể về ông Vũ Vương, ấy là chiêu “suy tôn lãnh tụ”. Tản Đà không biết rằng mình đang làm sai. Nếu Tản Đà ca ngợi bà vợ kế với ông Vũ Vương, hỏi bà vợ đầu đi đâu? Người ta chưa từng thấy chim thư cưu sống dư cặp hay sống lẻ loi, là vì tính nó như thế. Bản văn phải sát với thực tế.

Ở đây chúng ta không nói Tản Đà là làm lợi cho Hoa tộc Hoa tộc. Nhưng Tản Đà đã giải nghĩa sai, để lại những hậu quả vô cùng lớn cho các học giả Việt và cả văn hóa Việt sau này. Câu nói của Tản Đà vô tình giúp sức cho câu nói của tỷ phú Bill Gates: Có thể chọn lại vợ/chồng nếu thấy không hợp. Bill Gates vừa là thiên tài điện toán, vừa là tỉ phú, nên ai cũng tin tưởng đó là đúng, người trẻ trên thế giới vội vàng tin theo.

Sách Thi kinh tập truyện, Khổng Tử san định, Việt Nam có ông Tạ Quang Phát, rất giỏi chữ Hán, dịch và chú giải. Giả sử bài quan thư có nói về vua Vũ Vương thì cũng là sau khi bà vợ cả đã chết, Vũ Vương lấy bà vợ hai là nàng Thái Tự. Ông Tạ Quang Phát suy đoán như sau: “Những người trong cung, lúc nàng Thái Tự mới đến, thấy nàng có đức hạnh u tịch nhàn nhã trinh chuyên, bèn làm bài thơ nầy rằng: Kìa đôi chim thư cưu nghe hót quan quan, đang ứng họa với nhau trên cồn bên sông. Người thục nữ yểu điệu nầy há không phải là bạn lứa tốt của bậc quân tử Văn Vương hay sao?“ . Ông Tạ Quang Phát cũng như các học giả đời sau thường sai ở chỗ, các cô cung nữ sức đâu mà làm bài thơ này? Nếu trình độ họ làm được bài quan thư, thì họ đã không làm cung nữ. Đổ tác giả cho các cung nữ là vì không tìm được tác giả. Kinh Thi là sáng tác tập thể của dân gian . Tất nhiên cũng không nên chê ông Tạ phán đoán sai, vì ông có quyền phán đoán. Suy đoán cần được khuyến khích, và may mắn nó có thể dẫn tới những chương trình làm việc hay.

Phân tích bài thơ như sau: bối cảnh bài thơ này nằm trong khoảng sông Trường Giang và sông Hoài. Đây là đất của dân Việt. Người Việt thời đó còn đang hát trống quân (người Hoa “bắt vợ”, không có văn hóa này). Hai bè nam nữ, được biểu tượng bằng chim thư cưu, hát đối đáp nhau. Cô gái ra đề, chàng trai phải hát được đối cô gái. Người con gái ra đề (yểu điệu thục nữ), người con trai phải cầu cho được lời giải (quân tử hảo cầu). Nếu hát được thì cô gái cho phép sang sông và hợp thân ngay trên bãi cỏ. Vì phải nghĩ ra câu văn thật hay và thật nhanh để đối lại cùng cô gái, cho nên đàn ông Việt rất giỏi văn chương, từ đó gọi là xứ “văn hiến chi bang”.

Chỉ bốn câu thơ trong bài Quan quan thư cưu, chúng tôi tái phục dựng cho bạn xem được cả một nền văn hóa. Có 300 bài như vậy trong Kinh Thi, là tài sản quốc gia vô giá, rất cần đưa vào chương trình môn văn học cổ điển và tạo ra nhân lực để làm một cuộc cách mạng về nguồn cho cả người dân trong nhà nước Viêm Việt.

Ở đây ta lưu ý đến hai điểm:Thứ nhất, vì cô gái là người quyết định cuộc hôn nhân (người ra đề), nên vùng xảy ra bài thơ này trong văn minh mẫu hệ. Nói cách khác, bài thơ này, Kinh Thi, là của người Việt. Nếu nó xảy ra trên đất Hoa, thì chàng trai là người ra đề chứ không phải cô gái (du mục phụ hệ). Ngày nay, trên đát Việt, còn có tộc “:”bắt chồng”. Một anh to khỏe đi giữa đường, một cô miền núi thích, rủ cả nhà ra chặn giữa đường bắt về ở rể. Nhìn bằng con mắt triết, con mắt xã hội học, ta sẽ thấy, những bài đầu tiên, không rõ tác giả, trong Kinh Thi, bắt buộc phải xảy ra trên cánh đồng lúa của dân tộc Việt. Hiểu và vận dụng đúng bài thơ võ “Hiệp khách hành” lại là một người không biết chữ và không có tham vọng về võ thuật. Vì vậy người như bá tước Đức Keyserling, một người không biết chữ Nho nhiều, là người hiểu về Nho hơn cả tiến sĩ hàn lâm viện của Tàu.

Nhiều người, chắc chắn là máu Việt, bảo rằng Nho giáo với Kinh Thi là của người Tàu. Vì tin tưởng vào giáo dục sai lạc, nên vô tình tiếp tay cho xâm lăng, họ quá đông, có bằng cấp, có kinh tế, kiểm soát văn hóa, nên dân chúng hàng thế hệ không ai dám nghi ngờ. Trời ban cho ai cái này thì không ban cho họ cái kia.

Có bạn đọc cũng là nhà nghiên cứu, bảo rằng Kinh Thi chép bằng Hán tự, thì làm sao Kinh Thi là của người Việt như Văn Bút Việt Nam khẳng định được. Trả lời: Câu hát (Quốc phong) đã có trước ở bờ nam sông Dương Tử và truyền miệng. Sau này Khổng Tử chép lại lời đó (Khổng Tử san định), ký âm bằng chữ Hán. Cho nên về bản chất, Kinh Thi vẫn là của người Việt, ít nhất cũng là quá bán. Phá vách nhà thầy Khổng thì thấy còn chữ nòng nọc. Nếu không có thầy Khổng, thì có vô số bài thơ của nam thanh, nữ tú Việt Nam bỏ mất ngàn thu.

Viết tại Đà Lạt, ngày 20 tháng Ba năm 2020.

Tôn Phi.

Góp ý tác giả: [email protected]

Bài viết đã được đưa vào sách Giáo trình văn học Trung Quốc của nhà văn Tôn Phi đã phát hành trên Amazon.

Liên lạc mua sách trực tiếp tại tác giả: [email protected].

Các trợ lý:

[email protected]

[email protected]

Trân trọng cám ơn quý bạn.

Phụ lục: Ca khúc Mẹ yêu, giới thiệu sách Cùng học để giáo dục co trẻ của giáo sư Nguyễn Đình Cống.