“Sài Gòn nhỏ” viễn vông “giấc mơ to”

“Sài Gòn nhỏ” viễn vông “giấc mơ to”

Triệu Quốc Đạt

Tôi từng làm nghề thủ thư trong thư viện một trường tiểu học, có lẽ mắc bệnh nghề nghiệp nên la cà tìm đọc sách cũ, nhất là sách nói về thời xưa cũ. Những cuốn sách một thời gây ấn tượng sâu rộng trong độc giả đối với những người sinh ra trong thập kỷ 50-60 ở thế kỷ trước, nay muốn tìm cuốn sách bản chữ thô, giấy mộc, gáy sờn hẳn là hiếm rồi. Tôi cũng như nhiều người cùng thời, từng đắm say đọc thâu đêm một số cuốn sách “gối đầu giường”, như: Dế mèn phiêu liêu ký; Lá cờ thêu sáu chữ vàng; Đội du kích thiếu niên Đình Bảng, Bất Khuất, Đất rừng phương Nam, Tam quốc diễn nghĩa, Thép đã tôi thế đấy, Sông Đông êm đềm, Muối của đất, Không gia đình…; nay thế hệ trẻ họ chả màng tới nữa, nghĩ mà tủi lòng cho những tác phẩm một thời là món ăn tinh thần không thể thiếu. Dẫu biết rằng, thị trường sách giờ không còn sôi động như trước đây, bởi còn có mạng xã hội, có sách điện tử và còn muôn thứ người đời phải lo toan; song tôi vẫn tin rằng, chưa hết người yêu sách, quí sách, miễn là sách có nội dung cảm hóa, thuyết phục lòng người.

Với óc tò mò, tôi lãng vãng trên không gian mạng đi tìm những cuốn sách mới, sách có chủ đề lạ, ngẫu nhiên bắt gặp “Sài Gòn nhỏ” quảng cáo giới thiệu một số cuốn sách do một số tác giả từng trải qua cuộc chiến tranh Việt Nam trước năm 1975, hoặc không trực tiếp sống trong thời đó mà tìm tòi qua đống hồ sơ đồ sộ được người Mỹ lưu giữ ở chế độ “hồ sơ mật”. Trong số các cuốn sách tôi thấy quảng cáo có vẻ mùi mẫm: Tuốt kiếm phương xa – giấc mơ tan vỡ miền Nam (của GorgeJ.Veith); Bóng mây tình yêu (của Kim Vui); Đời tù một thiên nga (của cựu tù Nguyễn Thanh Thủy). VOA chính là bà đỡ lên mạng xã hội cho việc quảng cáo các cuốn sách nêu trên.

Ngẫm thì biết, viết sách và đọc sách cũng cần có cái tâm, cái trí, viết phải đủ tầm khai trí và định hướng nhân cách, đọc cũng phải đủ tầm nhận biết đâu là lẽ phải, đâu là nhân tâm, chính đạo, còn đâu là tà đạo. Bối cảnh thai nghén nên cuốn sách là hoàn cảnh lịch sử mà người viết ra nó từng trải nghiệm với những trạng thái cảm xúc vui-buồn-tủi-nhục-bi lụy-hoài niệm-lạc quan-ân -oán-vị tha-cố chấp-đồng cảm- chia sẻ. Người viết vừa phải sắm vai cái bóng của thời đại lại vừa phải đóng vai người đứng bên ngoài quan sát thời đại. Đối với 3 cuốn sách nêu trên, có một điểm chung là sự phản ánh hoài niệm, nuối tiếc một “giấc mơ lớn” của thời đại mà ánh hào quang “Sài Gòn-hòn ngọc viễn đông” làm lóa mắt những kẻ chuộng “dân chủ” phương Tây bị tan vỡ trong khói súng trưa hè đỏ lửa. Người thì chạy loạn, bươn chải cuộc đời theo kiếp cầm ca, kẻ thì trơ gan trong ngục tối, lại còn có người không nếm trải mật đắng thời cuộc, song do lật lại hồ sơ tuyệt mật của CIA mà bi lụy, giống như kẻ đọc “Đồi thông hai mộ” rồi bị lụy tình. Ngoài tác giả và độc giả, còn có kẻ thứ 3 làm nghề “lăng xê”, giới thiệu sách-đây có thể coi là lực lượng “mồi chài” độc giả, lời mồi chài cũng phản ánh tâm trí của một lao công chuyên lượm lặt mảnh vỡ hòng xây lại giấc mộng xưa. Hãy đọc, đoạn này khi giới thiệu về Bóng mây tình yêu: “Nếu nỗi lòng từng là bài hát Kim Vui đã dành riêng để tặng người yêu trong những ngày chiến tranh khói lửa, thì Bóng mây tình yêu là bài Nỗi lòng truyền cảm, sâu sắc nhất Kim Vui hát dành cho độc giả Việt Nam: “Nỗi lòng của một nghệ sĩ sinh trưởng trong một giai đoạn máu lửa tang tóc nhất của đất nước Việt Nam trong thế kỷ 20”. Đoạn bình trên là của dịch giả Phan Lê Dũng, còn nhân vật người tình của Kim Vui là một lính chiến trong quân lực Việt Nam cộng hòa, nỗi lòng từng trải của Kim Vui là những ngày tháng chạy loạn, cùng cực, vươn lên bằng kiếp cầm ca, nhưng rồi trống rỗng vì đời và tình tan vỡ hư vô. Không thể trách đối với Kim Vui, mà chỉ chia sẻ nỗi lòng của Kim Vui, cuộc đời và cuộc tình của tác giả Bóng mây tình yêu quả là oan hồn trên thây xác một chế độ tay sai, được tô vẽ hào quang bằng thuốc súng và đô la. Nếu có trách là trách một chút luyến lưu, một nhận thức mờ ảo khi đánh đồng chính nghĩa và phi nghĩa, khi gộp nộm Việt Nam như là một hình hài Tổ quốc linh thiêng cho phe bên thua cuộc.

Đây nữa, hãy đọc đoạn lăng xê cho cuốn sách Tuốt kiếm phương xa: “Trong 20 năm nghiền ngẫm, đào sâu vào biển tài liệu của CIA, của văn khố quốc gia Mỹ, của sách vỡ, hồi ký của những người MNVN, Veith đã vẽ lại một hình ảnh MNVN khác, một hình ảnh chuyển dạng, biến những bức tranh Picasso loạn sắc, khó hiểu của MNVN thành những bức tranh trong sáng, giản dị hơn, chuyển những góc khuất về một hướng rõ hơn, chuyển những góc phóng đại về những vị trí hợp lý hơn để đưa ra một hình ảnh MNVN ít thành kiến hơn, công bằng hơn. Trong đó, Veith dường như đồng cảm hơn với những kẻ ngã ngựa”. Còn đây là đoạn mào đầu ra mắt cuốn sách nêu trên: Qua tác phẩm “Tuốt Kiếm phương xa – những giấc mơ tan vỡ của miền Nam Việt Nam” độc giả thấy được bức tranh toàn cảnh của miền Nam, nào là vừa đẩy lui cuộc xâm lược thô bạo của cộng sản Bắc Việt hiếu chiến, vừa phải đương đầu với biết bao thách thức khốc liệt suốt hơn hai thập niên, vừa đối phó với những tranh chấp nội bộ nảy lửa trong lúc vẫn không ngừng phấn đấu hầu xây dựng dân chủ, ổn định và phát triển đất nước và đã đạt được những thành quả rất đáng kể.Gần nửa thế kỷ sau khi chiến tranh kết thúc, một thế hệ sử gia mới đang thẩm định lại cuộc chiến và quan trọng hơn nữa là tìm hiểu một cách chính xác hơn về tâm tư, ước vọng của những người Việt Quốc Gia. Tiến Sĩ George Jay Veith là một trong những sử gia đầu tiên bắt tay vào công việc đó”. Ông Veith được giới thiệu từng là đại úy tăng thiết giáp trong quân đội Hoa Kỳ, chưa từng qua tham chiến ở Việt Nam trước năm 1975, nhưng với sự dày công mất 20 năm ngụp lặn trong mớ tài liệu đồ sộ, ông này đã viết ra cuốn sách khoảng 800 trang, dựng lại chân dung bức tranh cuộc chiến tranh Việt Nam, nền cộng hòa MNVN, theo góc nhì “công tâm hơn”, phản ánh được nét “văn minh, tiến bộ” của cái chế độ bị đạp đổ hoàn toàn vào 30/4/1975.

Hóa ra, sau 50 năm với vô số những việc làm hòng cứu vãn hồn ma chế độ ngụy quyền Sài Gòn, những người hăng hái tham gia vào các diễn đàn văn hóa, chính trị chống lại chế độ chính trị hiện nay ở Việt Nam lại phải trông chờ vào việc vẽ lại lịch sử từ người đứng ngoài cuộc. Điều mà cuốn sách Tuốt kiếm phương xa-những giấc mơ tan vỡ miền Nam Việt Nam (với trang bìa minh họa cảnh đám đông co lại vô vọng, úp nón che đầu, khiến người ta liên tưởng cảnh khóc than bên một nấm mồ hoang tàn), chắc chắn sẽ giống như liều thuốc an thần lịch sử, giảm được cảm giác đắng cay của bên thua cuộc. Chúng ta từng nghe câu “không đâm kẻ ngã ngựa”, đó là triết lý sống của các kỵ sĩ thời phong kiến ở châu Âu, khi hai kỵ sĩ thi đấu, nếu bên kia bị ngã ngựa thì bên thắng cuộc không nên đâm bồi kết liễu người ngã ngựa. Theo triết lý ấy, hơn 50 năm qua, biết bao kiên nhẫn của người thắng cuộc và một bộ phận đông đảo phía thua cuộc đều nỗ lực xích lại gần nhau, hàn gắn vết thương lịch sử, cùng hướng tới tương lai nhân bản của loài người, trong xu thế chung, có nhiều người lưu vong trong cảnh điêu tàn chiến tranh đã có cơ hội hồi hương về cố quốc. Song đáng buồn là còn có những người cứ mãi ôm khư khư giấc mộng ngày xưa “dân chủ”, “tự do”…dưới ánh thép súng đạn, trong son phấn lòe loẹt và đồng tiền xanh mang hình Thổng thống Mỹ. Cũng trong tâm lý ấy, còn có một góc khuất khác, nay được người trong cuộc giải tỏa trong cuốn Đời tù một thiên nga, do một nữ tù nhân vốn là điệp viên của Ngụy quyền Sài Gòn, ăn lương do CIA chi trả. Người này là người thực, việc thực, nên nói ra chắc người ta tưởng là khách quan. Xin hãy nghe một phát biểu trong buổi ra mắt cuốn sách của cựu điệp báo trong chính quyền VNCH: Diễn giả Phạm Gia Đại nói rằng ông được tiếp xúc với một Đại Úy Thiết Giáp của Quân Lực Hoa Kỳ đến thăm khu Little Saigon. Đại Úy này nói với ông Đại, “Năm 1975 Cộng Sản Bắc Việt chiếm được miền Nam nhưng họ vẫn chưa chiến thắng chúng ta vì họ còn bị rất nhiều người chúng ta chống đối, lên án họ. Bởi thế nên chúng ta, bất cứ Quân, Dân, Cán, Chính nào cũng phải lên tiếng, phải viết thành sách, phải thuyết trình khắp nơi để nói lên sự tàn bạo của Cộng Sản sau khi họ chiếm miền Nam”. Với lăng kính cũ, với thiên kiến chính trị cổ hủ, những người còn nặng lòng tơ tưởng “bao giờ cho tới ngày xưa” vẫn chưa thể nào gạt bỏ được sự hận thù chính trị, do vậy sự hòa hợp dân tộc gặp khó trước hết từ trong tâm trí của lớp người “muôn năm khó cải não”. Chúng ta không lạ gì khi đọc được những dòng biểu thị sự “khâm phục chí khí” của cựu tù nhân Nguyễn Thanh Thủy. Tác giả cuốn sách nêu trên đã tự vỗ ngực cho mình là Thiên Nga (gãy cánh), hay hàm ý của bà cho cái chế độ VNCH mà bà từng phục vụ, “cống hiến” giống như con Thiên Nga không may bị gãy cánh, song chưa chết mà còn tiếp tục vật vưỡng nuôi ảo vọng, mơ về hồ xanh mênh mang. Bà ta là một “tấm gương” cho thế hệ trẻ hay là một cái gốc mộc cho những nấm độc leo trèo trên không gian mạng. Cảnh nhà tù thì dù có tốt đến mấy cũng chẳng thể làm hài lòng người tù, nhưng cứ nghĩ cảnh nhà tù ở Phú Quốc, Côn Đảo thì quả là địa ngục trần gian. Bà cựu tù nhân phía VNCH còn sống sau 13 năm “trải nghiệm trong nhà tù cộng sản” chẳng phải đã may mắn còn lành lặn trở về hay sao. Nếu nhà tù cộng sản đối xử với kẻ thù tàn ác thì chắc bà khó có ngày trở về làm “anh hùng” trong không gian “văn hóa Việt” ở cái gọi là Sài Gòn nhỏ nơi đất khách quê người. Nhìn cảnh hân hoan của những người phiêu dạt, hát lời ca ngạo nghễ và chào quốc kỳ Mỹ, sau là hát ngụy ca dưới cờ vàng ba sọc, nghĩ mà buồn và thương cảm. Trách lịch sử sao thử thách dân tộc Việt Nam nhiều đến thế, có tới gần 80 năm thực dân, phát xít nô dịch dân tộc, có tới 30 năm những thế lực đầu sỏ đế quốc “quyết xâm lược nước ta lần nữa”. Trong cuộc chiến ắt phải có kẻ thắng, người thua, nhưng sau cuộc chiến mỗi bên đều nên có những hành vi “ngoái đầu nhìn lại” để tránh vết xe đổ lịch sử. Dân tộc Việt Nam trong cuộc sống đương đại là một dân tộc cần phải đặt tinh thần đại đoàn kết lên trên hết, trong đó cần có sự cởi trói lương tri của bên thua cuộc, còn bên thắng cuộc thì đã mở lòng, thiện ý xây đắp sự hòa hợp dân tộc. Sự khách quan lịch sử là một trong những yếu tố quan trọng nhất, bởi nó chi phối nhãn quan chính trị của mỗi bên. Dù có ngàn vạn cuốn sách được viết ra mà động cơ, mục tiêu viết lại lịch sử theo tâm trí hận thù, ai oán thì chẳng có ích gì. Đức Phật dạy rồi, lấy oán báo oán thì sinh oán nặng hơn chứ không dứt được oán. Khi viết về chiến tranh điêu tàn trong lịch sử Việt Nam, chắc khó có ai viết điển hình bằng Chinh phụ ngâm, ra đời vào thế kỷ 18.

Nhân việc này, tôi nhớ lại lời của nhà văn Xô Viết nổi tiếng, ông Lép Tôn-xtôi, người mà trước đây ở các nước xã hội chủ nghĩa, ông được ngưỡng vọng là một văn hào viết về chiến tranh và hòa bình nổi tiếng nhất, song ít ai biết rằng ở một góc khuất, ông từng có tác phẩm Tự bạch, trong đó tự phơi bày những ung nhọt, thậm chí là cặn bã xã hội ở thời mạt vận Sa Hoàng (bị tiêm nhiễm trong cuộc đời ông), chính những căn bệnh ung thư ấy đã đưa nước Nga đến đêm trước của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Ông từng khuyên độc giả: đọc một cuốn sách hay giống như được trò chuyện với một người thông minh. Điều đó có nghĩa là, sách cũng có sự mở mang tri thức cho đời, là tri kỷ trên không gian giao hòa đời thực với đời mơ. Cớ sao mấy cuốn sách được Sài Gòn nhỏ lăng xê lại rối rắm và u ám đến thế. Phải chăng, giấc mơ to cách đây 50 năm còn vật vờ trong não trạng chính trị của một bộ phận người Mỹ gốc Việt, kéo rê âm hưởng đàn cò nhạc hiếu bi ai, não nề. Biết đến khi mô lòng người mới tự bạch đúng nghĩa như nỗi lòng của Lép Tôn-xtôi???