Cá cái cứ dư dứ hạt rong vào miệng cá đực rồi lại lùi ra xa, cá đực thấy thế bơi xán vào. Cứ vậy, đôi cá mải miết vờn nhau hàng tiếng đồng hồ y như đôi tình nhân đương độ nồng thắm. Trông chúng, Vê chạnh nghĩ đến sự đơn độc của riêng mình.
Cái lưới then kép trong suốt như tơ trông giống một rèm cá dưới ánh nắng dát vàng mặt biển buổi hừng đông. Thả lưới hơn tiếng đồng hồ, Vê nằm ngửa trên mủng nhìn trời, mặc cho sự nổi trôi vô định đến khi quay lại gỡ lưới ngỡ như chiếc váy viền đăng ten đính bạc. Vê nhẹ nhàng bắt then lưới, thả về nước những con cá vược, cá đối, cá căng đầy bụng trứng, chỉ ném vào giỏ những con cá đực mình thuôn cố tình giãy đạp. Thêm một lần thả lưới nữa, chiếc giỏ tre đã đầy tú hụ. Anh bơi mủng về bến đổ, xách giỏ cá đem ra chợ cho Vân ngồi bán.
Vân là em gái của Vê, ít hơn anh đến sáu tuổi. Thực ra, Vân chỉ là em gái nuôi. Thuở nhỏ, vì thương cảnh mồ côi lại bị mù nên cha anh đem về nuôi, coi như con đẻ. Ông mất sớm để lại người vợ bại liệt cùng hai đứa con bát sứt, bát mẻ nương tựa nuôi nhau. Vê bẩm sinh không được thông minh cho lắm, người làng vẫn bảo là “dở người” duy được cái sức vóc. Hơn mười tuổi đã lùa trâu đi cày thuê cho khắp thiên hạ, ai bảo gì làm nấy, trả công bao nhiêu cũng ừ, nhiều khi không công.
Ở cái làng chài nghèo này, phần lớn đàn ông, thanh niên biệt xứ hết. Các công ty trong nam như chỗ trũng nước, dân lao động nghèo cứ thế trôi vào. Hàng năm họa may về quê ba ngày Tết, bằng không dăm năm mới về một lần. Còn lại trong làng chỉ là gái già, trai giở không làm ăn được với đời nên cam phận. Khung cảnh làng quê suốt bốn mùa tịnh tờ, hiu hắt.
Sông Bùng là một phụ lưu của sông Lam, xẻ đôi đất Diễn đổ ra Biển Ðông. Cửa sông Bùng có địa thế rộng, nước leo lẻo về mùa xuân, hạ, về mùa thu, đông khi lũ thượng nguồn đổ về, nước chuyển mầu gạch cua. Ở giữa sông Bùng, đoạn qua làng Cát nổi lên một cù lao trông như cái rốn lồi bà chửa quanh năm rờ rỡ cải vàng. Tự dưng ở chốn quê kiểng mà có một tạo tác của tự nhiên không kém phần tươi đẹp. Ngày nhỏ, về mùa cạn hai anh em Vê vẫn thường bơi sang đây hái hoa tết thành vòng về đặt quanh mộ cha. Vân còn hái thứ hoa ấy về nấu canh cá măng, mùi hoa hăng hắc tạo nên vị canh là lạ mà chỉ hai anh em ăn là thấy ngon. Bà mẹ nằm liệt giường, mỗi lần thấy con gái bưng thứ canh ấy lên là lắc đầu quầy quậy.
Vê tròn hai sáu dạo tháng giêng, như trai làng là Vê đã ế. Trong làng, cứ trai mười tám, hai mươi, gái mười sáu, mười bảy là cưới hỏi linh đình, xong dắt díu nhau tứ xứ làm ăn, lâu lâu bồng cháu về thăm ông bà. Thấy thiên hạ cưới vợ rầm rộ, Vê thấy thinh thích. Nhiều lần anh vào buồng nằng nặc giục mẹ đi hỏi vợ, bà nhìn đứa con trai chỉ lắc đầu. Nhìn vào gia cảnh nhà Vê, với lại anh vẫn mang tiếng là “đứa giở người” thì chẳng gái nào chịu lấy. Lấy chồng là để nhờ chồng nhưng như Vê, đứa trẻ con ba tuổi cũng có thể lường gạt được thì chẳng ma nào ngó vào. Mỗi lần có đám rước từ làng Cót bơi thuyền qua làng Cát là Vê lại bơi một mạch sang cù lao hoa cải nằm khóc tu tu từ sáng đến chiều, phải đến khi Vân chèo mủng sang năn nỉ ỉ ôi mới chịu về.
Nói là Vân bị mù, nhưng không hẳn. Ðôi mắt cô có thể nhìn được một vài phần mười, cứ theo quán tính mà mò mẫm cũng lần tìm được đường ra chợ và hướng nước để bơi mủng. Cha Vân trước vốn là đồng đội với cha Vê cùng một đơn vị. Tính tình tương đắc, vào sinh ra tử biết bao nhiêu trận nên đã có ý nếu sau này còn sống trở về quê hương lập gia đình thì sẽ là thông gia của nhau. Nhưng cả hai ông đều không may mất sớm, mối hôn ước ấy may ra chỉ có bà mẹ bán thân bất toại là biết nhưng từ lâu bà coi hai đứa như anh em ruột nên không nghĩ đến chuyện ấy nữa, với lại, cả hai đều tật nguyền, lo cho cái bụng chưa xong đâu tính tới tình yêu đôi lứa. Nhưng đã là con người cũng giống loài hoa vậy, đến thì tất vào nụ rồi kết hoa.
Ba mẹ con nhà Vê được cấp ba sào ruộng khoán. Ðất cát pha quanh năm bị biển lấn, nhiễm phèn chua chẳng trồng trọt được gì. Cuối vụ, tẻ cả sào ngô được lưng rá hạt, đem phơi không để ý gà vào ăn một lúc cũng hết. Sắn thì lay lắt, mỗi vụ được vài ba bữa luộc. Cái đói cái nghèo trở nên thân thuộc. Vê ngoài việc đi cày ruộng thuê sau mỗi vụ gặt ở các làng lân cận thì cũng tìm đến các lò gạch bên làng Cót đào đấu kiếm cơm. Về mùa này, ít việc thì ra cửa sông Bùng thả lưới kiếm cá cho Vân đi chợ bán. Ðược cái, đúng mùa cá sinh sản nên suốt mùa xuân cái lu sành không lúc nào ngót gạo.
Gia tài cha Vê để lại ngoài cái căn nhà ngói cũ ba gian hai chái xây dựng từ đời cụ cố còn có chiếc mủng đan bằng cật tre đực ngoài phết hắc ín rất vững chắc. Ðấy vừa là phương tiện đi lại vừa là phương tiện kiếm ăn của anh. Làng Cát chỉ là một đụn cát chơ vơ, bốn bề bị nước cô lập. Ðúng ra là một ốc đảo. Các làng khác quen gọi bằng cái tên “Ðảo chết trôi”. Vì sau lưng là sông Bùng vây lấy như một cánh cung xanh, hai điểm đầu và cuối chia nước sông Lam mà đổ về biển. Sông Lam chia đôi sông Bùng giống như một đường trung tuyến, ở cái ngã ba ấy ngày xưa nổi tiếng bởi một loài cá lạ nhưng đã thất truyền. Cù lao hoa cải mọc lên ở đấy. Chúng ta cứ hình dung rằng, làng Cát giống như một miếng của quả táo hỏng cắm trên đầu mũi tên là cuối nguồn của dòng sông Lam, còn sông Bùng căng lên như một cánh cung và bộ cung tên ấy như luôn sẵn sàng bắn văng cả làng Cát ra biển lớn. Mặt trước làng Cát thì suốt bốn mùa biển gầm gào dậy sóng. Hàng trăm hộ dân làng Cát luôn sống trong nỗi nơm nớp lo sợ ấy. Từ làng Cát muốn đi sang các làng khác, phương tiện duy nhất là bơi mủng.
Một buổi chiều, bên làng Cót có đám rước dâu. Nhà trai, nhà gái tấp nập bơi thuyền. Hoa trôi dày mặt sóng. Chú rể mặc bộ áo bà ba đen, quấn khăn xếp, cô dâu mặc chiếc áo hoa cà sặc sỡ, nụ cười nghiêng ngả bến sông. Trông thấy cảnh ấy, Vê không chịu được. Cắm đầu xuống sông Bùng, bơi thẳng một mạch sang cù lao hoa cải nằm khóc. Khóc chán ngửa mặt nhìn trời, tự hỏi vì sao mình khóc. Lấy vợ. Nhất định mình phải lấy vợ…
(Còn nữa)