Hồi còn rất nhỏ, chẳng nhớ vào lớp nào, sau khi phải học thuộc lòng bài “một năm có bốn mùa là Xuân Hạ Thu Đông” thì thầy giáo đã hỏi là tôi thích mùa nào mà tôi không biết làm sao trả lời. Bởi vì cho tới nay đối với tôi mùa nào cũng có cái thích và cái không thích. Ngay cả mùa đông Chicago nhiều người đã chê bai là lạnh lẽo tuyết giá, nhưng tính ra tôi ở đó đã gần 40 năm, mà chẳng thấy gì là khổ cực. Lâu hơn thời gian lớn lên ở Hà nội, và dài hơn thời gian trưởng thành ở Sàigòn. Nhưng không mấy gì là gắn bó như với Hà nội hay Sàigòn. Tôi chỉ thấy Chicago là nơi thực sự có bốn mùa, với nhiều trường đại học nổi danh, có đủ các loại món ăn đặc sản của khắp miền trên thế giới có thể thưởng thức dễ dàng.Từ Cambodia đến Ethiopia đến Nga đến Afghanistan. Và yên lành nhất nước Mỹ. Vì không có thiên tai khó tránh như động đất, bão lốc, lụt lội, thiếu nước. Còn nhân tai như bắn giết lẫn nhau thì được các nhà chính trị thổi lên vì nhu cầu thông tin giải trí cũng chỉ giới hạn ở một số khu mà nếu mình không đến đó thì sự hiểm nghèo không khác bao nhiêu những thành phố khác ở đất Mỹ.
Nhìn lại cuộc đời tôi cho tới nay thì mùa thu, tháng tám luôn luôn để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất.
Thực thế, những ấn tượng đầu tiên về tháng 8 còn ở trong lòng tôi từ hơn 70 năm là tết trung thu với những đứa trẻ con cùng trạc tuổi tôi kéo những chiếc xe đồ chơi bằng sắt tây có con thỏ ngồi gõ chiếc ống bơ leng keng, hay những chiếc xà lúp xinh xinh đốt dầu chạy trong chậu thau nước nổ lụp bụp, mà tôi không có. Buổi tối ngày rằm được đi phố xem múa sư tử, say mê nghe không chán tiếng trống thùng thình thùng thình. Được ăn bánh dẻo bánh nướng là hai thứ tôi thích vô cùng, mà không bao giờ đã miệng, vì đó là thứ hàng xa xỉ đối với gia đình tôi. Lớn lên khi đã hành nghề thì bệnh nhân biếu bánh trung thu không thiếu thứ thượng hảo, nhưng không còn có cái thèm nhạt thời xưa nữa.
**
Nhiều người bây giờ nghe mấy chữ cách mạng tháng 8/1945 thì dị ứng, dội ngược. Và ngay cả không muốn nói đến mấy chữ này. Nói những tiếng này ra không thiếu gì người cho là thân Cộng hay là Việt cộng. Tất cả, chỉ vì những chính sách tàn ác bạo ngược của Việt Cộng sau đó. Cách mạng tháng 8 nguyên thủy dưới mắt thằng bé chưa được mười tuổi ở thành phố Vinh lúc đó, là tôi, đã diễn ra nhẹ nhàng, và đã dẫn tôi vào một khung cảnh khác với khung cảnh quen thuộc từ lúc biết thu nhận sự việc chung quanh, vì một số những chuyện mới lạ.
Tôi còn nhớ vào một buổi xế trưa nào đó, đang ở trong nhà thì nghe tiếng ồn ào ngoài đường, liền chạy ra ngoài đầu hè xem. Thì thấy hai người thanh niên đi xe đạp, vác loa hô lớn, kêu gọi đồng bào “ba giờ chiều chủ nhật đến sân vận động biểu tình giành độc lập”. Đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy mấy chữ “độc lập”, và “biểu tình” mà không hiểu nghĩa là gì. Rồi tôi thấy mấy bà hàng xóm từ đâu đó đến nhà chỉ cho mẹ tôi may cờ đỏ sao vàng. Thời gian đó, đến trường tôi được dậy hát những bài “Bao chiến sĩ anh hùng’, Côn đảo, Nhớ chiến khu, Anh em trong đoàn quân du kích… Và cứ thế nghêu ngao cả ngày. Cũng trong thời gian này, một hôm có loa vác đi kêu gọi người đi xem xử tử hai tên “Việt gian” (lần đầu tiên tôi nghe hai chữ Việt gian). Tôi đã chạy đi xem cuộc hành hình diễn ra ở khoảng đất trống trước cửa Tả thành Vinh, cách nhà tôi ở phố Cửa Tả chừng vài chục căn nhà. Hai người Việt gian này tôi còn nhớ rõ tên là Trần Văn Cống và Tống gia Liêm bị trói vào một cái cột gỗ. Người trưởng toán hành hình bước ra trước đám đông đọc bản án xử tử hình vì tội họ đã tố giác ông Đội Cung là người cầm đầu một toán lính khố xanh nổi loạn chống Tây. Khiến ông này bị thực dân Pháp bắt đem giết. Đọc xong bản án, người này lùi sang bên. Rồi một tiếng hô “bắn” vang lên. Đó là lần đầu tiên tôi thấy hai người bị bắn chết, gục đầu khụy xuống, máu đỏ ở ngực trào ra ướt bộ quần áo trắng, sau những tiếng súng nổ lốp đốp. Về nhà, tôi bị mẹ đóng cửa, không cho vào, bắt chờ ở ngoài để “đốt vía”, Mẹ tôi đem chiếc chổi xuể long hao ( hay song hao hay ?) đốt cho cháy bốc mùi thơm thơm ra quơ chung quanh người tôi, rồi để xuống đất bắt tôi bước qua trước khi cho vào nhà. Ít lâu sau, tôi được đưa đi xem khánh thành cái mộ ông đội Cung được xây bằng đá granito đen thật đẹp ở ngay ngoài cửa Hữu thành Vinh.
Rồi, có lẽ là vào dịp tết, tôi lần đầu tiên được xem nhạc hội. Những thanh thiếu nữ mặc áo dài múa trên sân khấu chỉ cho tôi cảm giác là lạ. Nhưng mà đáng chú ý nhất là một nhạc cảnh diễn tả cảnh những người dân bị cùm xích vùng lên chống lại thực dân Tây. Trong ánh đuốc bập bùng trên sân khấu, tôi được nghe bài hát vô cùng cảm khái, đại khái như sau
“Sống tranh đấu mà không sờn lao khổ
Chết huy hoàng mà không khuất phục ai
Anh có nghe tiếng súng rền vang nổ
Hãy mỉm cười mà tin chắc ở ngày mai
Giở lịch sử mấy ngàn năm xưa cũ
Bao anh hùng bỏ mạng cứu non sông
Lửa thiêng cháy máu thiêng sôi bất diệt
Cách mạng thành hạnh phúc muôn ngàn năm
Tôi cũng còn nhớ rằng có vài lần đã cùng với những nhi đồng khác được đưa ra sân nhà ga Vinh để tiễn đưa những người thanh niên miền Bắc vào Nam đánh giặc Pháp. Có những người phụ nữ đem các khăn mù xoa trắng xinh xinh ra tặng những người ra đi. Tôi được đọc những khẩu hiệu như Độc lâp hay là chết, Đả đảo thực dân Pháp…Và rồi chính sách “tiêu thổ kháng chiến” được thi hành, nhà nọ đục tường thông sang nhà kia v..v..
**
Mùa thu năm 1947, sau khi mẹ tôi ốm chết, Tây về làng càn quét. Cái nhà gỗ lim năm gian của ông nội tôi bị đốt cháy. Con lợn nái chết cháy trong chuồng. Gạo để trong chiếc hòm chân thành than, lúa chứa trong hai chiếc chum chôn dấu dưới nền đất cũng khét không thể ăn được. Cây chuối có một buồng để dành đem bán bị cháy. Tôi xót xa tiếc những quả chuối nẫn nần, nhưng nhớ bữa cơm ngon vô tả với chuối xanh sào bằng mỡ nạo vét đâu đó từ con lợn chết cháy. Không còn gì để sống. Không còn chỗ để ở. Nấn ná tạm trú ít lâu trong nhà một bà cô ở làng bên thì ông nội tôi, bố tôi và ba anh em tôi phải chạy về tề (ở Hà nội). Lại vào đêm rằm tháng tám! Tôi biết như thế vì trong khi ngồi dưới thuyền ban tối bỏ làng ra đi, lúc tới phủ Lý nhân thì tôi được nghe thấy tiếng trống múa sư tử và loáng thoáng đèn trung thu trẻ con rước trên bờ!
Ra đến Hà nội khi vào lóp đệ thất, bắt đầu học giảng văn thì một đoạn trong bài thuộc lòng mà tôi nhớ tới bây giờ là trích ra từ một cuốn sách của Thanh Tịnh, cũng về mùa thu:
“Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nẩy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng… Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. (Thanh Tịnh).
Học thuộc lòng thì nhiều, nhưng tôi chỉ nhớ bài này vì ngôn từ âm điệu nhẹ nhàng và hình ảnh dễ thương. Cá nhân tôi, lúc bắt đầu đi học thì nhà ở phố Cửa Trường Nam Định, trường học chỉ cách nhà có chừng mươi căn, ở ngay bên kia đường. Tôi nhút nhát, và sợ đi học. Cho nên mẹ tôi phải kéo tôi đi đến trường và giao cho cô giáo rồi đi về cho mau, không muốn nghe tôi khóc.
Hình ảnh mùa thu này lại tìm thấy vài năm sau qua bài giảng văn tiếng Pháp của Anatole France mà tôi cũng nhớ đoạn văn tiếng Pháp mà nếu dịch ra tiếng Việt thì nghĩa là “ Tôi sẽ kể cho bạn điều mà tôi nhớ lại hàng năm dưới bầu trời sao động mùa thu và những lá trở vàng trong những cái cây run rẩy. Điều mà tôi thấy lúc đó là một cậu bé tay đút túi, lưng mang cặp sách, nhẩy như con chim sẻ đi đến trường”… Cũng mùa thu, tôi đã đến Pháp sau khi du học xong ở Mỹ về, để được người bạn thân cùng lớp trung học Chu văn An đưa đi xem Paris, với tháp Eiffel, vườn Lục Xâm Bảo, khu chợ bán sỉ Les Halles, nay là thư viện Pompidoux, ăn món soupe hành tây truyền thống bình dân vào buổi khuya gần sáng trong đám những người buôn sỉ và chuyển hàng cần có chút gì dằn bụng ấm lòng trước khi đi ngủ sau một ngày dài.
Tôi đã có giấy tờ đi du học vào mùa thu, nhờ sự giúp đỡ hiệu quả không ngờ, không chờ đợi và không một chút tốn kém, của một người không quen biết trực tiếp, khi mọi cuộc xuất ngoại du học bị hủy bỏ và tất cả đều phải chịu lệnh tổng động viên để chống lại cuộc tấn công Mậu Thân đợt hai của những quân Hà nội còn sống sót, không có đường rút đi đâu mà cũng không thể lẩn khuất sống kéo dài vô vọng. Chuyến du học này đã sửa soạn điều kiện cho tôi thích ứng nhanh chóng với đời sống tạm dung sau khi vượt biển sống sót cũng vào mùa thu mùa bão. Gia đình tôi đã may mắn lên đảo Pag Asa (Hy Vọng) trong quần đảo Trường Sa do hải quân Phi chiếm đóng, trong khi một thuyền vượt biển khác ghé vào cái đảo kế cận do bộ đội VC trấn giữ cùng hôm đó đã bị sả súng bắn bể nát, chết hết, trừ một thiếu niên ôm mảnh ván thuyền trôi vật vờ, được hải quân Phi cứu và mấy người lính Phi luật tân trên Pag Asa kể lại cho tôi nghe ngày hôm sau.
**