Trân trọng mời quý bạn đọc cùng khám phá cây xoan, còn gọi sầu đâu, từ nhiều góc độ: thực vật, y dược, văn nghệ dân gian, ngôn ngữ, ẩm thực, v.v.
oan / xoan ta / xoan trắng / xoan tím / xoan nhà là cách gọi của đồng bào miền Bắc nước ta, lắm phen bị nói nhầm phụ âm đầu do đó viết sai chính tả ra soan. Cây này được dân chúng tại nhiều địa phương, chẳng hạn ở miền Trung cùng các tỉnh thành Nam Bộ, gọi sầu đâu và thầu đâu. Vì sao? Trong Tự vị tiếng Việt miền Nam (NXB Văn Hoá, Hà Nội, 2006), Vương Hồng Sển cho biết từ nguyên của sầu đâu: “danh từ, do tiếng Cơ Me sdau”. Cơ Me tức Khmer. Sdau ghi rõ thành sđâu.
Hãy nghe mấy câu ca dao:
Nước ròng chảy đến Tam Giang,
Sầu đâu chín rụng, sao chàng biệt tăm?
Và:
Nước ròng chảy đến Nam Vang,
Sầu đâu chín rụng lan tràn khắp nơi.
Tam Giang là đầm phá nước lợ trải dài 68km, thuộc 5 huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nam Vang tức Phnôm Pênh, thủ đô đất nước Campuchia.
Sầu đâu biến âm, chuyển nghĩa, thi hoá thành sầu đông. Vẫn ca dao:
Trái bồ hòn trong tròn ngoài méo,
Trái sầu đông trong héo ngoài tươi.
Em thương anh ít nói ít cười,
Ôm duyên chờ đợi chín mười con trăng.
Xoan / sầu đâu được định danh khoa học bằng tiếng Latinh là Melia azedarach L. thuộc họ Xoan (Meliaceae). Tiếng Pháp: Lilas du Japon / lilas des Indes. Tiếng Anh: Chinaberry / Persian lilac / Bead tree / White cedar. Tiếng Nhật: センダン. Tiếng Hoa: 苦楝 được phát âm Bắc Kinh là kulian, âm Hán-Việt là khổ luyện.
Khảo sát hình thái, đa số các nhà nghiên cứu đều nhận xét rằng xoan chính là sầu đâu / sầu đông. Hầu hết tài liệu xưa nay về thực vật và dược liệu cũng ghi nhận vậy. Tuy nhiên, Phạm Hoàng Hộ biên soạn các sách như Cây cỏ Việt Nam và Cây có vị thuốc ở Việt Nam thì cho rằng xoan là Melia azedarach L. còn sầu đâu là Azadirachta indica Juss., cả hai thuộc họ Xoan (Meliacea).
Nguồn gốc, tính chất & lợi ích
Tập 4 Từ điển bách khoa Việt Nam (NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005) đề cập về xoan: “(Melia azedarach; tên khác là sầu đông, thầu đâu), loài cây gỗ, họ Xoan (Meliaceae). Cao 15-20m. Lá kép lông chim lẻ 2-3 lần, lá chét mép răng cưa, đầu nhọn, rụng lá mùa đông. Hoa đều lưỡng tính, mẫu 5, xếp thành chuỳ ở nách lá, nở trước hoặc cùng thời gian với lá non, màu tím nhạt, thơm hắc. Quả hạch, vỏ ngoài nạc, vỏ trong hoá gỗ, 4-5 ô, mỗi ô chứa 1 hạt đen. Cây nguồn gốc Tây Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản. Ở VN, thường gặp trên các nương rẫy cũ, đất ẩm mát, có tầng đất sâu. Được trồng lấy gỗ, củi, lá. Gỗ màu nâu nhạt, mềm, nhẹ, ít bị mối mọt, dễ bị nứt, dùng làm cột nhà, đóng bàn ghế. Lá làm phân xanh, thuốc trừ sâu, thuốc phòng chống mọt để bảo quản lương thực, hạt giống. Quả độc làm thuốc trừ sâu, thuốc sát trùng, trừ ghẻ lở. Vỏ, thân và rễ chứa tanin, oxalat, hợp chất macgosin, độc. Hạt lấy dầu làm xà phòng. Than xoan dùng làm thuốc súng.”
Thực tế, cây xoan / sầu đâu có thể cao đến 30m. Đây là loài thực vật thân gỗ nhỏ với lá bán thường xanh hoặc sớm rụng. Mỗi bông hoa gồm 4-5 cánh màu trắng có hoặc không phớt tím, ống nhị màu tím. Quả màu xanh lúc nhỏ non, chín màu vàng. Thành ngữ gương mặt trái xoan dành để chỉ khuôn diện xinh xắn đáng yêu của phụ nữ. Tạp chí Thời Trang Trẻ đăng ý kiến của Thu Hoà: “Gương mặt trái xoan thanh tú rất dễ trang điểm, mang nét đẹp kiêu sa, sang trọng và quý phái.”
Sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (NXB Khoa Học Và Kỹ Thuật in lại lần 4, Hà Nội, 1981) hướng dẫn cách thu hái và xử lý xoan: “Vỏ hái về phơi hay sấy khô. Khi dùng, sao cho hơi vàng, hết mùi hăng là dùng được, không phải chế biến gì khác. Vỏ thân và rễ được dùng làm thuốc, nhưng vỏ rễ mạnh hơn, với tên khổ luyện căn bì. (…) Ngoài vỏ thân và vỏ rễ, người ta còn dùng cả quả xoan làm thuốc với tên khổ luyện tử.” Tài liệu này còn có đoạn: “Vỏ rễ và vỏ thân xoan được nhân dân ta dùng chữa giun từ lâu đời nhưng vì có độc mà liều lượng dùng thường thiếu chính xác cho nên tuy có nhiều kết quả tốt nhưng cũng đã gây ra một số vụ ngộ độc. Cho nên gần đây ở nước ta hầu như không thấy sử dụng chữa giun, nhưng tại Trung Quốc, Mỹ, nhân dân dùng vỏ xoan làm thuốc chữa giun kim, giun đũa. Muốn phục hồi lại việc dùng vỏ xoan chữa giun, cần chú ý tới liều lượng và cách chế biến sao cho tiện dùng. Tránh sử dụng bừa bãi tự động dễ gây những tai hại đáng tiếc.”
Cần nhớ rằng lá xoan / sầu đâu cũng là dược liệu. Lâu nay, đồng bào truyền nhau kinh nghiệm: hái lá xoan rồi đặt trong chum chứa các loại hạt, chẳng hạn đỗ / đậu, cốt phòng chống mọt; nấu nước với lá xoan để tắm cho người lẫn gia súc (trâu, bò, ngựa, v.v.) nhằm chữa ghẻ, hoặc phun lên cây cối hầu diệt côn trùng.
(Còn nữa)