Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Ông Ích Khiêm là người văn võ song toàn, lập nhiều chiến công hiển hách. Tuy nhiên, quan điểm quân sự lạc hậu thời vua Tự Đức, những rối ren của lịch sử đương thời, đã khiến cuộc đời Ông Ích Khiêm đầy biến động…

Ông Ích Khiêm (1832- 1884), quê ở làng Phong Lệ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Năm 1848, mới 16 tuổi, Ông Ích Khiêm thi đỗ Cử nhân, sau được bổ làm Tri huyện Kim Thành (Hải Dương). Nổi tiếng là người chính trực, năm 1862, ông đã can thiệp việc thu thuế ở địa phương, đánh một tên chánh tổng cường hào và bị cách chức. Đây là sự kiện đầu tiên, đánh dấu nghiệp quan trường đầy sóng gió của Ông Ích Khiêm.

Không lâu sau khi bị cách chức, ông được gọi về Kinh, được phong chức, cùng với Nguyễn Tri Phương cầm quân bảo vệ Đà Nẵng. Năm 1865, ông được cử làm Tiễu phủ sứ, đánh dẹp quân phỉ quấy nhiễu ở biên giới phía Bắc. Trong giai đoạn này, ông đã lập một loạt các chiến công hiển hách, được người dân yêu quý, quân sĩ kính trọng.

Thành Điện Hải (xây dựng năm 1823-Triều vua Minh Mệnh), tại nơi đây năm 1858, Ông Ích Khiêm cùng với quân dân Đà Nẵng dưới sự chỉ huy của Tổng đốc quân vụ Nguyễn Tri Phương anh dũng đánh trả sự xâm lược của liên quân Pháp- Tây Ban Nha.

Giữa năm 1865, Tạ Văn Phụng (vốn là người Việt theo đạo Thiên Chúa, với xu hướng thân với Pháp, liên kết với Tàu- nên còn bị coi là “giặc khách”) đã tiến hành nổi dậy ở Quảng Yên, Hải Ninh (Hải Phòng và Quảng Ninh ngày nay). Ông Ích Khiêm cầm quân đánh được, lại thu phục được thành phủ Hải Ninh…Nhờ đó, ông đã được cất lên chức Hồng lô tự khanh Biện lý bộ Lễ. Năm 1867, ông lại được thăng làm Thị lang Bộ binh. Cũng trong năm này ông dẹp được loạn Vị Tái Thọ (tên tội phạm nhà Thanh, trốn sang nước ta, tụ đảng làm loạn), được vua phong cho làm Tiễu độ sứ, đi diệt phỉ ở miền Bắc.

Lúc này ở phía Bắc, có hai nhóm phỉ hoạt động dưới sự cầm đầu của hai tên “giặc khách” là Ngô Côn và Hoàng Sùng Anh. Đây là hai tướng phỉ thuộc tổ chức Thiên Địa Hội (Trung Quốc), sang Việt Nam từ năm 1862 và chiếm cứ thành Tuyên Quang, châu Quy Thuận (Cao Bằng). Năm 1868, Ông Ích Khiêm phối hợp với quân đội nhà Thanh đánh bại quân phỉ Ngô Côn ở vùng Thất Khê (Lạng Sơn). Tuy nhiên sau đó ông bị trách tội do quản quân không nghiêm, để quân cướp bóc trong dân. Lấy công chuộc tội, ông đã dùng tượng binh truy đuổi, quyết tâm hoàn toàn tiêu diệt quân phỉ Ngô Côn. Đến năm 1870, thì bắn chết được tướng giặc Ngô Côn ở Quảng Ninh. Năm 1875, thủ lĩnh Hoàng Sùng Anh của nhóm giặc Cờ Vàng cũng bị ông thu phục.

Năm 1870, trong lúc đánh dẹp quân phỉ Tô Tứ, ông bị thương nên đành phải lui quân về Hải Dương. Bị kết tội không làm tròn nhiệm vụ, ông đã bị giáng chức. Năm 1871, ông đánh thắng quân Tô Tứ, nên được thăng Thị lang, đổi làm Tham tán quân, chuyên lo đánh dẹp. Năm 1872, ông dẹp phỉ ở vùng Trấn Yên (Yên Bái) đại thắng, nên được khen thưởng, nhưng chẳng bao lâu đã bị cách chức do thua trận. Năm 1876, tại Cổ Loa, ông giết được tên phỉ Giáp Văn Trận, bắt sống tên phỉ Lý Dương Tài ở hồ Ba Bể (1878)… được phong tước “Kiêu Dũng nam”. Trong các cuộc dẹp loạn, ông cũng gặp thêm các lần thăng chức, giáng chức…Thậm chí, ông bị tướng Tôn Thất Thuyết sai quân bắt giam, giải về Kinh chờ án, nhưng do bệnh “tâm hỏa” mà được trả về nhà. Sau đó, năm 1882, ông tiếp tục được vua Tự Đức trọng dụng, tuy nhiên, do bản tính nóng nảy, ông tiếp tục bị giáng chức, đẩy đi phòng thủ ở Hòa Quân, rồi tiếp tục lập công và được phục chức. Sau khi vua Tự Đức mất (1883), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết làm phụ chính nắm hết mọi quyền bính trong triều. Ông Ích Khiêm thẳng thắn phê phán những hành động sai trai của họ mà bị buộc tội đày vào Bình Thuận, và mất tại đây (1884).

Lăng mộ Ông Ích Khiêm tại nghĩa trang xã Hòa Thọ, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, đã được công nhận Di tích Quốc gia.

Ông Ích Khiêm được coi là thần đồng văn chương, danh tướng trận mạc, cuộc đời ông là một chuỗi thăng trầm của những chiến công và bản án. Cuối cùng, vị “Kiêu Dũng nam” kết thúc cuộc đời trong lao tù, nhưng tài năng, phẩm giá kiên trung của ông vẫn còn được ghi dấu trong lịch sử và sự ca tụng của người đời.

Phương Thảo (tổng hợp)

Nguồn:

  1. Đại cương lịch sử Việt Nam (toàn tập). Nxb Giáo dục. Hà Nội, 2009
  2. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb Giáo dục. Hà Nội, 2005
  3. Bách khoa thư mở : wikipedia