Lưu ý: bài viết có tiết lộ trước một số nội dung quan trọng.
Cái khoảnh khắc đau đớn nhất trong bộ phim Mùa Ổi (2000) đến từ đạo diễn Đặng Nhật Minh, có lẽ là phân đoạn người cha buông một câu nói rất đỗi tự nhiên với chính đứa con của mình, để giúp anh cất bước chân rời khỏi ngôi nhà yêu dấu.
Hòa ơi, đi thôi con! Bao giờ đến mùa ổi, ba lại cho về hái nhé!
Người cha ngây thơ khi nghĩ rằng, chỉ là lời nói bâng quơ thế thôi, làm sao có thể ảnh hưởng đến số phận cuộc đời nghiệt ngã của gia đình họ?
Đứa con ngây thơ khi nghĩ rằng, đó ắt hẳn phải là một lời hứa, một lời thề nguyện để anh khắc cốt ghi tâm, đau đáu mang theo.
Nhớ cái lần dọn đi, tưởng đi đâu một vài ngày. Thế rồi… không về nữa
Lẽ thường tình trên đời, con người chúng ta vẫn thường bào chữa cho sự ngây thơ; chúng ta không kết tội những hành động được thực hiện với “mục đích tốt”, những lời nói dối để người khác “vui lòng”, những lầm tưởng không đắn đo vụ lợi … Nhưng với Mùa Ổi (2000) dù khán giả có rộng lượng đến đâu, cũng chẳng thể không thầm oán trách chính những nhân vật của nó.
Tại sao họ có thể ngây thơ, thuần khiết & độc ác đến thế?
Tại sao?
…….
Xoay quanh cặp đôi nhân vật chính – anh em Hòa & Thủy do hai diễn viên gạo cội của điện ảnh Việt Nam thủ vai: Bùi Bài Bình & Lan Hương; bộ phim Mùa Ổi (2000) được dẫn dắt với nhịp điệu chậm rãi cùng mạch truyện không nhiều điểm mới lạ.
Công bằng mà nói, mô-típ của tác phẩm điện ảnh này, cũng như đặc trưng tính cách những nhân vật của nó sẽ khó làm bất ngờ khán giả người Việt Nam. Chúng ta đã quá quen những tình huống, những số phận, những cao trào của bộ phim. Chúng gần như đã trở thành trade-mark của giai đoạn phim ảnh Việt lấy đề tài gia đình thành thị, những năm cuối thập nhiên 90s đầu thập nhiên 2000s.
Tuy nhiên, cũng giống như bữa cơm đạm bạc với rau muống, nước mắm, dưa cà; Mùa Ổi (2000) ngon miệng không vì nó khơi gợi trong chúng ta sự tự hào về những đặc trưng văn hóa, mà bởi Đặng Nhật Minh là người đầu bếp giỏi xoay sở với những nguyên liệu nghèo nàn. Cũng bó rau ấy, để người khác nấu sẽ nát nhừ dai nhách. Cũng chén nước mắm ấy, để người khác pha sẽ ngai ngái khó ngửi.
Tôi thường đùa với bạn bè mình, muốn Đặng Nhật Minh làm phim hay, tốt nhất đừng cho ông nhiều tiền. Chỉ khi phải đương đầu với nguồn kinh phí hạn hẹp, phải đắp chỗ này – xén chỗ kia; người đạo diễn này mới thể hiện được hết cái duyên, cái tài của ông.
Lần này cũng không ngoại lệ. Khán giả xem và thích Mùa Ổi (2000) chẳng vì chúng ta được chiêm ngưỡng những khung cảnh hào hoa, lãng mạn (mà thực ra thi thoảng vẫn xuất hiện trong bộ phim); chúng ta bị cuốn vào nó bởi sự huyên náo của phiên chợ trời đông đúc, bởi những con hẻm chất hẹp, bởi những khung cửa sổ chung cư cũ kỹ xác xơ.
Hà Nội trong Mùa Ổi (2000) cũng nên thơ, nhưng lại không thi vị như Hà Nội trong Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng (2000), dù Đặng Nhật Minh cũng như Trần Anh Hùng đều khai thác những hình ảnh dung dị, đời thường của thành phố này.
…….
Hòa – nhân vật chính của bộ phim, nguồn cơn của mọi câu chuyện bi hài – là người “không bình thường”.
Anh ấy hiền lắm, chẳng làm hại ai bao giờ.
Có thật thế không?
Đúng, anh chẳng bao giờ có ý đồ xấu xa. Hòa lành tính, ngờ nghệch. Ai nói gì anh cũng nghe, ai nhờ gì anh cũng làm. Anh ngoan ngoãn và tin người, hệt như câu bé con được nuôi dưỡng trong gia đình gia giáo có của ăn của để. Nhưng thật ra, chính anh làm mọi người khổ sở hết lần này đến lần khác, dù rõ là anh ngây thơ nào có dụng tính gì.
Khán giả, ai thương cảm anh sẽ bảo chả hay ho gì chuyện kết tội một người “không bình thường” như thế, ai lòng dạ thực dụng sắt đá thì cũng chẳng vừa: “vậy thì lỗi của ai, của ông trời, của cuộc đời, của lịch sử?”
Thủy – em gái Hòa, một người bình thường như bao người bình thường khác.
Và chính bởi vì là “người bình thường”, cô biết tổn thương và khước từ quá khứ, hệt như một phản ứng tất yếu của kẻ từng suýt chết đuối khi một lần nữa bước hụt chân xuống vũng nước sâu. Thủy khóa chặt sự ngây thơ của bản thân vào ngăn kéo và vụng về phô diễn ra vẻ ngoài lạnh lùng.
Nhưng có cố bao nhiêu, cô cũng vẫn không thoát khỏi nỗi đau tất yếu, trớ trêu như trò đùa số phận.
Cả những nhân vật phụ như Loan, Huệ, ông luật sư, bà hàng xóm, ngài quan chức … tất thảy bọn họ đều ngây thơ, đều nhầm tưởng bản thân có thể làm chủ cuộc đời, nhầm tưởng việc mình đang làm là đúng đắn, là hiển nhiên.
Chúng ta liệu có thể trách ai, ngoài sự ngây thơ ấy?
Kịch bản do Đặng Nhật Minh chấp bút làm nổi bật sự mâu thuẫn, đối nghịch giữa những nhân vật của chính nó và trong nội tâm khán giả. Chúng ta nhận ra bản thân đồng thời nghĩ cái kết – cách giải quyết vấn đề của bộ phim là một lựa chọn nhuốm màu bi kịch đầy bế tắc; và cũng phần nào thở hắt đầy nhẹ nhõm, tự huyễn hoặc rằng chẳng còn lựa chọn nào tốt hơn.
Có phải vì chính khán giả cũng nhận ra mình đâu đó trong bộ phim?
Nhắm mắt chọn tin tưởng để rồi nhận lấy đớn đau?
…….
Xem xong Mùa Ổi (2000), tôi chợt nghĩ rằng.
Điện ảnh Việt Nam không cần (quá nhiều) những bộ phim doanh thu ngàn tỉ.
Điện ảnh Việt Nam cũng không cần (quá nhiều) những tác phẩm thử nghiệm, thách thức người xem, chan chứa hàm ý nghệ thuật sâu xa.
Chúng ta cần điện ảnh Việt Nam quay về với cuộc sống thực, yêu thương – ghét bỏ – thù hận – thứ tha.
Ở thời điểm hiện tại, chúng ta cần điện ảnh Việt Nam dám ngây thơ và độc ác.