Chân dung Viện trưởng Viện khảo cổ học Phạm Huy Thông phác họa của đồng nghiệp Hoàng Văn Dư (2000)
Các trí thức cùng thời trân trọng khi nói về vị Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1956-1966), Viện trưởng Viện Khảo cổ học (1967-1988):“Bên cạnh sự thông tuệ của một nhà khoa học với những kiến thức liên ngành thấu đáo, bên cạnh tầm nhìn xa của một nhà quản lý, Phạm Huy Thông còn là hiện thân của chất nhân văn, sự lịch lãm được kết tinh giữa Hà Nội với Paris hoa lệ…”.
Uyên thâm hơn người
Giáo sư Thông là con trai chủ hiệu vàng Chân Hưng, nhà tư sản Phạm Chân Hưng (quê gốc Hưng Yên), người giàu có tiếng ở phố Hàng Bạc trước Cách mạng Tháng Tám. Cụ Chân Hưng có ba người vợ, cả ba đều giỏi buôn bán. Nhờ đó, nhà họ Phạm trở thành một trong những gia đình tư sản giàu có nhất Hà Nội thời đó. Giàu có là thế nhưng chí hướng của ông không dừng lại ở việc kinh doanh. Từ những năm 1920 thương gia Chân Hưng đã tham gia “Lớp học yêu nước” Đông Kinh Nghĩa Thục của chí sĩ Lương Văn Can, rồi sớm tiếp xúc với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh để củng cố tư tưởng ái quốc. Em trai út là GS Phạm Huy Dũng tự hào: “Cụ tổ nhà tôi là Phạm Quang Chiếu từng đỗ Đại khoa thời Lê (Hoàng giáp Tiến sĩ, năm 1676), được khắc tên trong bia đá ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Theo gốc gác được ghi trong gia phả, chúng tôi là hậu duệ đời thứ 24 của Phạm Ngũ Lão”.
Mười sáu tuổi, chàng trai làng Đào Xá, tỉnh Hưng Yên tên là Phạm Huy Thông gia nhập vào phong trào Thơ Mới (với bài thơ hào sảng “Tiếng địch sông Ô”) với một “tâm hồn kỳ dị” mà nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã đặc tả như sau:“Chưa bao giờ thơ ca Việt Nam có những lời hùng tráng như trong tác phẩm của người thiếu niên hiền lành và xinh trai ấy. Anh hùng ca của Victor Hugo tưởng cũng chỉ thế. Giữa cái ẻo lả, cái ủy mị của những linh hồn chờ sa ngã, thơ Huy Thông đã ồ ạt đến như một luồng gió mới…”.
Hai mốt tuổi, ông tốt nghiệp cử nhân luật và được sang Pháp du học, 26 tuổi, đỗ Tiến sĩ luật học và mất thêm 2 năm để có thêm bằng thạc sĩ sử, địa.
Ba mốt tuổi, được phong là Giáo sư giữ chức ủy viên hội đồng giáo dục tối cao của Pháp.“Nhắc lại con đường học vấn để thấy sự uyên bác có gốc gác từ hồi trẻ ‘và cả đời mình, ông không ngừng học hỏi để bổ sung kiến thức cho bản thân”, PGS Nguyễn Lân Cường, Hội Khảo cổ học Việt Nam, người có hơn 20 năm làm việc với ông cho biết.
Năm 1946, ông làm Thư ký cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và Phái đoàn ngoại giao Việt Nam tại Hội nghị Fontainebleau; tham gia Ban lãnh đạo Tổng hội Việt kiều yêu nước tại Pháp (do ông Trần Ngọc Danh làm Tổng hội trưởng) cùng các ông Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện, Võ Văn Lạc, Trần Thanh Xuân. Tổng hội trưởng Tổng hội Việt kiều yêu nước tại Pháp thay ông Trần Ngọc Danh (1950-1952).
Năm 1952, thực dân Pháp đưa Phạm Huy Thông về quản chế ở Ô Cấp (nay là Vũng Tàu), ở nhà giam Chí Hòa, rồi Bà Chiểu và trung tâm huấn chỉnh Biên Hòa. Trong hai năm 1954 – 1955, Phạm Huy Thông là sáng lập và làm Tổng thư ký phong trào hòa bình miền Nam cùng luật sư Trịnh Đình Thảo, luật sư Nguyễn Hữu Thọ, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, dược sư Trần Kim Quan, kỹ sư Từ Bá Đước, Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng…
Vì tham gia phong trào đấu tranh hòa bình miền Nam, chính quyền Sài Gòn trục xuất Phạm Huy Thông ra Hải Phòng (vùng đất do tạm quyền Sài Gòn quản lý). Cùng bị trục xuất khỏi Sài Gòn với ông còn có luật sư Nguyễn Hữu Thọ, luật sư Hoàng Quốc Tân, Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng…Phải đến tháng 5/1955, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam mới tổ chức giải thoát thành công cho Giáo sư Phạm Huy Thông khỏi Hải Phòng.
Chất nhân văn
Mỗi khi nhắc lại cuộc sống của đời thường của GS Phạm Huy Thông, các nhà khoa học đều nhắc tới là chất nhân văn, lịch thiệp trong xử thế và quan tâm tới con người, bạn bè, đồng nghiệp.
Ông luôn nhớ và chu đáo với các nhân viên cấp dưới vào các ngày hiếu, hỉ hay sự kiện quan trọng trong cuộc sống thường ngày. GS Phan Huy Lê đến nay còn giữ khá nhiều những tấm danh thiếp và những mẩu giấy nhỏ của Phạm Huy Thông cảm ơn khi nhận được sách gửi tặng, hoặc trả lời hay trao đổi, hẹn gặp về một việc gì đó.
Nhà ông ở đường Hồ Xuân Hương thuộc nội thành, hàng ngày sau giờ làm việc, Phạm Huy Thông có ô tô đưa về nhà. Mọi người thường vẫn nhắc như một giai thoại có thật: Trên ô tô của ông lúc nào cũng có người đi nhờ, nếu không phải là một giảng viên trẻ tuổi chưa đủ tiền mua xe đạp thì lại là một chị nhân viên thư viện mải đọc sách quên giờ nấu cơm chiều, hay chị cấp dưỡng cần về nhà gấp kịp cho con bú!
Bao trùm lên tư chất trí tuệ của một học giả, phẩm cách kinh kỳ, tâm hồn thi nhân trong con người Phạm Huy Thông là chất nhân văn.
Năm 1956, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ nhiệm hàm Giáo sư trong đợt đầu tiên và đảm nhiệm chức Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đến năm 1965. Từ năm 1965 đến năm 1986, ông là Viện trưởng Viện Khảo cổ học và Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện hàn lâm KHXH Việt Nam).
Năm 1996, Đảng và Nhà nước truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh trong đợt đầu tiên. Một con đường đẹp của Thủ đô, bao quanh hồ Ngọc Khánh, trước cổng Đài Truyền hình Việt Nam nay được mang tên Phạm Huy Thông.
GS Phạm Huy Thông (thứ 3 từ phải sang) cùng Ls Nguyễn Hữu Thọ, Ls Hoàng Quốc Tân (thời gian bị Pháp an trí tại Hải Phòng năm 1955) (ảnh tư liệu)
Thơ vận vào đời
Đi đầu trong phong trào thơ mới, với tư chất thông minh sáng dạ, ông sớm bắt được hồn thời đại. Trước khi sang Pháp học sử, học địa, học luật… rồi trở về Việt Nam gắn cả cuộc đời với nghiệp nghiên cứu khảo cổ, lịch sử, Phạm Huy Thông ghi dấu vào “thời đại mới trong thi ca Việt Nam” với một đặc trưng lạ, lấy cảm hứng từ những nhân vật lịch sử, mang tới một không khí khác thường trong ước mơ và dĩ vãng. Nhưng Huy Thông không phải chỉ biết hồi tưởng và những giấc mộng ái ân êm dịu. Khi yêu người còn có những khát vọng lạ lùng:
Tôi muốn hóa một con chim để cùng gió
Bay lên cao mơn trớn sợi mây hồng;
Muốn uống vào trong buồng phổi vô cùng
Tất cả ánh sáng dưới gầm trời lồng lộng;
Muốn có đôi cánh tay vô ngần to rộng
Để ôm ghì cả vũ trụ vào lòng tôi!
“Dấn thân vào “cuộc đời rộng rãi”, ông đã để lại nhiều dấu ấn cho cuộc đời, nhưng rồi cũng không thoát khỏi “qui luật trần gian”. Năm 1988, cuộc đời của con người độc hành kiêu sang ấy đột ngột dừng lại với cái chết bí ẩn ở tuổi 72, trong sự sửng sốt và tiếc thương vô hạn của bạn bè, đồng nghiệp và học trò. Là nhà thơ, nhà khoa học, am tường kinh dịch, đời ông vận vào thơ, hay thơ ông dự cảm cuộc đời:
Trống mão điểm trời sâu tăm tối mãi,
Và dòng sông Dịch Thủy nặng nề trôi.
Đưa tráng sĩ lên đường không trở lại,
Lòng cô gia đau đớn hỏi bao nguôi?
(Kinh Kha – Huy Thông)
Thanh An-(TTĐN)