Lúc tôi mới bắt đầu vào học tiểu học năm 1960 và một vài năm tiếp theo, trong thời khóa biểu có một môn học gọi là Cách Trí. Thầy cô giáo đôi khi còn gọi là môn Thường Thức tức là môn học về các sự vật chung quanh mình. Nhưng không có ai giải thích Cách Trí nghĩa là gì. Có lẽ danh từ đó cũng vượt quá sự hiểu biết của thầy cô giáo tiểu học. Sau này khi lớn lên học Hán ngữ, tra cứu tôi mới biết.
Danh từ Cách Trí là gọi tắt Cách Vật Trí Tri, danh xưng này đầu tiên xuất phát từ sách Lễ Ký 禮記 phần nói về Đại học, nguyên văn là : Dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri, trí tri tại cách vật「欲誠其意者,先致其知,致知在格物.」[Người muốn cho ý chân thành trung thực, trước hết phải đạt được sự hiểu biết đến cùng (trí kỳ tri). Để hiểu biết đến cùng phải cách vật 格物. Cách vật có nghĩa là xét cho cùng, hiểu cho đúng tường tận cái lý của sự vật]
Lý tưởng của Nho giáo : “Tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ” cũng xuất phát từ đây. Họ dạy rằng muốn làm sáng tỏ cái Đức trong thiên hạ 明明德于天下者 (minh Minh Đức vu thiên hạ giả) cũng tức là Bình thiên hạ (đem lại thái bình thịnh trị cho thế giới- Pax Mundi- World Peace) trước hết phải cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm. Tất cả những việc làm đó nằm trong nội dung tu thân.
Tóm lại người quân tử muốn làm được việc vĩ đại nhất là Bình thiên hạ thì trước hết phải lo tu thân. Mà tu thân cốt yếu nhất là phải cách vật để trí tri (xét sự vật đến cùng để hiểu biết tận cùng cái lý của nó).
Tóm lại trong thời đại của Khổng Tử, người ta đã nêu ra nguyên tắc Cách vật trí tri gọi tắt là Cách Trí. Nhưng trong thực tế không thực hiện được. Lý do là trình độ khoa học thời xưa còn thấp kém nên chẳng biết làm thế nào để cách vật. Thời đó không có khả năng đi sâu vào cấu trúc của vật chất để hiểu tường tận.
Đến đời Tống, Nho gia cố gắng phát triển Lý học với những nhân vật nổi tiếng là Chu Đôn Di (周敦頤 1017-1078CN), Trình Hạo (程顥 1032-1085), Trình Di (程頤1033-1107,Chu Hi (朱熹 1130-1200). Họ cố gắng cách vật trí tri nhưng biến tướng trở thành lý tưởng cầu học để làm người hoàn thiện nhưng không thật sự trí tri. Có thể nói là họ thất bại trong cách vật bởi vì khả năng khoa học kém cỏi của thời đó không giúp được gì nhiều. Người ta chỉ hiểu khái quát bề ngoài thôi. Chẳng hạn Vương Dương Minh thử ứng dụng cách vật trí tri, ông ngồi dưới bụi trúc trong 7 ngày, chẻ nhỏ thân trúc để tìm cái lý mà chẻ mãi tìm mãi cũng chẳng thấy lý gì, mất công toi và chán nản. Mãi ba chục năm sau, ông bỗng nhiên tỉnh ngộ, thấy rằng không thể đến với sự vật để tìm ra đạo lý được, mà đạo lý ở trong tâm mình. Nhưng ông không biết rằng phải cách vật tới cấp độ phân tử, nguyên tử, lượng tử (hạt cơ bản của vật chất) thì mới có thể tìm thấy cái lý sâu thẳm không tưởng tượng nổi của vật. Nhưng thời đó chưa có khả năng đi sâu như vậy.
Và thời Tống người ta đưa ra những phương châm ràng buộc tệ hại nhất đối với con người trong xã hội, nô dịch đối với giới trí thức và trói buộc quá mức đối với phụ nữ. Nho gia đời Tống xem “chết đói là việc nhỏ, thất tiết mới là việc lớn”, đòi hỏi người phụ nữ chết chồng lỡ gặp cảnh đói kém phải chịu chết đói chứ không được đi lấy chồng khác để giữ trinh tiết!
Sách Nhị Trình Toàn Thư (di thư của Trình Hạo và Trình Di chương 22) có đoạn:
Hỏi “Phụ nữ góa chồng không thể giữ mình theo đạo lý thì như thế nào ? Đáp : “Thế này nhé. Phàm nên giữ trinh tiết với chồng. Còn nếu chọn thất tiết đi bước nữa là mất trinh tiết. Lại hỏi : Hoặc nếu có cô nhi bần cùng không chỗ nương tựa thì có thể tái giá không ? Đáp : Chỉ là hậu thế sợ chết đói chết rét mới nói như vậy. Chứ nên coi : Ngạ tử sự cực tiểu, Thất tiết sự cực đại 餓死事極小,失節事極大 (Chết đói là việc rất nhỏ, Thất tiết là việc rất lớn)
Nhà thơ nữ Lý Thanh Chiếu là một nạn nhân của luật pháp trọng nam khinh nữ do các Nho gia đời Tống chủ trương. Sau khi chồng là Triệu Minh Thành mất, bà tái giá với một người chồng mới không mấy tử tế là Trương Nhữ Châu. Cảm thấy bất hạnh, bà gởi đơn kiện và xin ly hôn. Bà thắng kiện nhưng theo luật pháp thời đó dù bà có lý do chính đáng để xin ly hôn nhưng kiện chồng thì vẫn bị phạt hai năm tù. Vì bà là nhà thơ nổi tiếng nên được quan lớn Kỳ Sùng Lễ hết lòng giúp đỡ miễn giảm cho bà những việc lao nhọc trong tù. Mãn hạn tù bà có viết lá thư cảm ơn. Nhờ lá thư này mà người ta thấy rõ cụ thể những bất công trọng nam khinh nữ của thời xưa ngay trong luật pháp, nhất là thời Tống với những quy định rất khắt khe đối với phụ nữ.
Chu Hi nói : 所谓致知在格物者,言欲致吾之知,在即物而穷其理也。盖人心之灵莫不有知,而天下之物莫不有理,惟于理有未穷,故其知有不尽也。是以《大学》始教,必使学者即凡天下之物,莫不因其已知之理而益穷之,以求至乎其极 (Cái gọi là tri thức hoàn thiện nằm ở việc tìm hiểu sự vật đến tận cùng, Lời nói này là nếu tôi muốn hiểu biết tường tận thì đối với các sự vật, phải lý giải tới tận cùng, bao gồm cả tâm linh con người, không có gì là không biết. Nhưng mọi sự vật trên đời đều không có gì là không có lý của chúng, tuy nhiên lý thì không có chỗ cùng tận, nên tri thức về chúng là vô tận vậy. Vì vậy thiên “Đại học” mới dạy điều tất yếu khiến các học giả, phàm đối với mọi thứ trên đời, không có cái gì mà nhân từ cái lý đã biết mà suy ra đến tận cùng để cầu đạt tới cùng cực).
Lục Cửu Uyên học giả đời Tống từng cho rằng phương pháp “cách vật trí tri” của Chu Hi quá “chi ly vỡ vụn”
Vương Dương Minh đời Minh đã viết trong thiên “Đại học vấn”: “Trí tri’ không phải là điều mà các vị hậu Nho gọi là để mở rộng tri thức mà là cái mang lại lương tri cho ta. Lương tri là cái Mạnh Tử gọi là khả năng “phân biệt đúng sai” Mọi người đều có tâm phân biệt đúng sai, nó không cần phải suy nghĩ mới biết, không cần đợi học mới biết, cho nên gọi là lương tri.
La Khâm Xuyên đời Minh cho rằng “Cách vật” dùng để chỉ sự hiểu biết của con người về những sự vật bên ngoài, “lấy sự học hỏi là chủ yếu, bổ sung bằng sự suy nghĩ biện luận.” “Trí tri” là hoạt động lý tính của con người tiến hành suy nghĩ biện luận, lấy “suy nghĩ biện luận là chủ và học vấn là phụ trợ”. Nếu như không có “cách vật” tức là không có tiếp xúc với sự vật bên ngoài thì tri thức sẽ rơi vào không tưởng. Nếu như không có “trí tri” thì sẽ bị mê hoặc lầm lạc trước các hiện tượng sự vật. Vì vậy hai phương thức phải bổ sung cho nhau.
Nói chung các học giả Trung Hoa trong nhiều thời kỳ đã suy nghĩ khá nhiều về Cách vật trí tri nhưng không có khả năng thực hiện cách vật (tìm hiểu tới cùng về vật chất, sự vật) nên không có trí tri (hiểu biết đến nơi đến chốn). Rốt cuộc họ dựa vào quan niệm chung của xã hội mà trong đó người nam là chủ đạo để xây dựng triết học (Lý học) và luật pháp một cách chủ quan, nó trói buộc nặng nề giới trí thức và bất công đối với phụ nữ. Chu Hi có nghiên cứu về Phật giáo và Đạo giáo nhưng chưa thấu đáo lại lấy thiên kiến của mình để xây dựng thành cái gọi là Lý học đời Tống nông nổi và lệch lạc và có ảnh hưởng tiêu cực tới vận mệnh của TQ, nó khiến TQ suy nhược và mất nước vào tay các dân tộc thiểu số là Mông Cổ (triều đại nhà Nguyên) và Nữ Chân (Mãn, triều đại nhà Thanh)
Trong khi đó Phật giáo có sự hiểu biết thấu đáo hơn, xứng đáng gọi là Trí tri vì đã hiểu biết đến tận cùng do Đức Phật là người giác ngộ chỉ dạy. Phật giáo đã du nhập TQ theo hai ngã.
Sớm nhất là từ phía nam tức là từ Việt Nam ngược lên TQ.
Theo sách Lĩnh Nam chích quái, vào thời đại Hùng Vương, hai vợ chồng Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa đã được một nhà sư Ấn Độ tên là Phật Quang thuyết giảng về Đạo Phật tại núi Quỳnh Viên. Mặc dù đây là truyền thuyết nhưng không hẳn là không có thật. Theo khảo cứu của các học giả, núi Quỳnh Viên ở phía nam Cửa Sót nơi con sông cùng tên chảy ra biển (nay thuộc Hà Tĩnh). Lịch sử Phật giáo cho biết rằng vào thời vua A Dục (Asoka 273 – 232 tr CN), vua nước Ma Kiệt Đà (Magadha- bắc Ấn Độ) sau khi xâm chiếm xứ Kalinga, gây bao cảnh chết chóc đau thương cho hàng vạn người, bỗng cảm thấy hối hận, nhà vua phát nguyện ủng hộ Phật giáo, xây dựng nhiều chùa chiền, thành lập 9 phái đoàn để truyền bá đạo Phật ra các nước chung quanh, trong số đó có phái đoàn do hai cao tăng Uttara và Sona đi bằng đường biển đến Suvannabhumi (xứ của vàng) truyền đạo. Sử của Thái Lan và Myanma có ghi nhận công cuộc hoằng pháp của phái đoàn này. Một đoàn khác do Mahoda, con của vua A Dục cầm đầu, đã đến nước Văn Lang của vua Hùng thứ 18 vào năm 240 trước CN. Theo sử liệu điều chỉnh thì Thục Phán đánh chiếm nước Văn Lang không phải năm 258 trước Công nguyên như sử cũ mà phải là năm 208 trCN và, như vậy khi đoàn của Mahoda đến vào năm 240 trCN, thì nước Văn Lang vẫn còn). Họ đã thuyết giảng và xây dựng cơ sở Phật giáo, trong đó có bảo tháp vua A Dục tại thành Nê Lê mà ngày nay là Đồ Sơn, Hải Phòng, tăng sĩ trong đoàn có gặp và thuyết pháp cho Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa, đó là dấu vết xưa nhất của Phật giáo tại Việt Nam. Sách Thiền Uyển truyền đăng tập lục có dẫn lời sư Đàm Thiên nói với vua Tùy Cao Đế rằng ở Giao Châu có đường biển sang Thiên Trúc (Ấn Độ), trong khi Giang Đông (Trung Quốc) chưa có Phật giáo thì ở Luy Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh) thủ phủ của Giao Châu, đã có 20 ngôi chùa, 500 vị tăng, dịch kinh được 15 quyển. Trong số tăng sĩ đó, có Khâu Đà La (Ksudra), Ma Ha Kỳ Vực (Marajivaka), Chi Cương Lương Tiếp (Kalasivi), Khương Tăng Hội (người gốc Khương Cư -Sogdiane, nay thuộc Uzbekistan_theo cha mẹ đến Luy Lâu lúc 10 tuổi. Năm 248CN, vua nước Ngô Tôn Quyền cho sứ giả sang Luy Lâu rước Khương Tăng Hội đưa về Kiến Nghiệp)…Các tăng sĩ đều là người Ấn Độ hoặc Trung Á đến Giao Châu truyền đạo trong thế kỷ 2 và 3 Công nguyên.
Còn sử liệu chính thức thì Phật giáo bắt đầu du nhập TQ từ năm 65 CN.
Câu chuyện Minh Đế cầu pháp được tìm thấy trong Hậu Hán thư. Sách này chép rằng niên hiệu Vĩnh Bình thứ tám (65 Tây lịch), vua Minh Đế ra chiếu chỉ người phạm tội lẫn trốn phải dâng một số tơ lụa tốt để chuộc tội. Sở Vương Anh, huynh đệ của Minh Đế, đóng đô ở Bành Thành, tự xét rằng trong nhà có người phạm tội nên dâng ba mươi bốn xấp lụa để chuộc tội cho người thân. Minh Đế xem trường hợp này không đáng xử tội với lý do Sở Vương biết “tụng lời vi diệu của Hoàng Lão và sùng thượng đức nhân từ của Phật” (楚王誦黃老之微言尚浮屠之仁祠 thời đó chưa có danh xưng Phật, còn gọi Phật là Phù đồ 浮屠Buddha) nên hẳn nhiên là người tốt không phải tội, cho nên vua đem tơ lụa hoàn trả lại cho Sở Vương. Sau đó, Sở Vương làm lễ sám hối, ăn chay ba tháng và tổ chức trai tăng thịnh soạn cúng dường Tăng sĩ (桑門 tang môn về sau mới gọi là tăng già 僧伽) và cư sĩ (伊蒲塞 y bồ tắc về sau gọi là ưu bà tắc 優婆塞). Chiếu văn của Minh Đế hiện nay vẫn còn. Nhưng câu hỏi về thầy của Vương Anh là ai vẫn còn là một nghi vấn. Văn kiện lịch sử này là một chứng cứ xác thực chứng minh sự có mặt của Phật giáo vào thời Hậu Hán.
Một câu chuyện khác nói rằng Hán Minh Đế mộng thấy người vàng (金人) từ phương Tây. Qua lời bàn của viên quan Phó Nghị, vua sai sứ qua Tây Vực cầu pháp. Thành quả của chuyến đi này là thỉnh được Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan là hai vị tăng của Tây Vực. Vua Minh Đế cho xây chùa Bạch Mã ở ngoại ô thành Lạc Dương làm nơi thờ Phật, phiên dịch kinh điển.
Tóm lại theo chính sử thì Phật giáo được chính thức ghi nhận du nhập TQ từ năm 65 CN dưới thời Hán Minh Đế bằng đường bộ. Còn theo truyền thuyết thì Phật giáo đã du nhập VN sớm hơn 300 năm, vào khoảng năm 240 trước CN dưới thời vua Hùng Vương thứ 18 bằng đường biển và Phật tử đầu tiên chính là Chử Đồng Tử và Tiên Dung công chúa. Khi Triệu Đà đem quân đánh chiếm nước Âu Lạc của Thục Phán vào khoảng năm 179 trước CN và sau đó năm 111 trước CN, lúc Lộ Bác Đức đánh chiếm nước Nam Việt dưới triều vua Hán Vũ Đế, thì khi đó Phật giáo đã có tại miền Bắc VN rồi.
Những điều Phật giáo nói như Nhất thiết pháp vô tự tính, Nhất thiết duy tâm tạo là những Trí tri (hiểu biết tận cùng, nguyên lý) mà các nhà Nho chưa hề biết. Phật cũng không dùng phương pháp Cách vật (xét sự vật đến cùng để tìm cái lý) để biết mà nhờ có thần thông siêu việt nên thấy biết cả những điều mà khoa học hiện đại dùng phương pháp cách vật vẫn chưa hiểu hết.
Chẳng hạn Phật biết không gian, thời gian, số lượng, vật chất, chỉ là những khái niệm của con người chứ không phải sự thật khách quan. Kinh điển Phật giáo gọi những thứ đó là thế lưu bố tưởng 世流布想 là tưởng tượng bình thường phổ biến được lưu truyền rộng rãi qua nhiều đời của thế nhân chứ không phải là sự thật tuyệt đối.
Khoa học hiện đại dùng phương pháp cách vật, đã khám phá ra lượng tử, là những đơn vị nhỏ nhất của vật chất, đó là các hạt cơ bản của vật chất như photon, electron, quark… tất cả có 18 loại hạt cơ bản mà riêng hạt graviton (hạt hấp dẫn) trước đây người ta chỉ mới nhìn thấy sóng mà chưa tận mắt nhìn thấy hạt nên chưa đưa vào bảng Mô hình chuẩn Vật lý hạt (Standard Model of Particle Physics) như sau (17 loại hạt cơ bản):

Mô hình chuẩn của Institute of Technology Madras
Gần đây Hội đồng Châu Âu về Nghiên cứu Hạt nhân (CERN) đã đưa luôn hạt graviton (chữ g) vào cho đủ toàn bộ 18 hạt.

Mô hình chuẩn của CERN (Conseil Européen pour la Recherche Nucléaire)
Như vậy 18 hạt cơ bản của vật chất gồm 6 loại hạt quark, 6 loại hạt lepton và 6 loại hạt tương tác (forces) bao gồm luôn cả hạt higgs (higgs boson).
18 loại hạt này gọi là hạt cơ bản của vật chất (elementary particles). Mỗi loại hạt đều có hai hình thái đối lập nhau là hạt và sóng. Nghĩa là mỗi loại hạt đều có một loại sóng tương ứng. Nhưng cả 18 loại sóng đều có chung một bản chất sóng vô phân biệt gọi là sóng tiềm năng (potential wave). Sóng tiềm năng là một trường thống nhất vô tự tính, vô phân biệt. Phật giáo có nhiều tên gọi cho trường thống nhất này : Tâm, Phật, Phật tánh, Tánh không, Vô ký không, Vô thủy vô minh. Các triết học tôn giáo khác cũng có nhiều tên gọi cho cái bản thể này như : Trời, Thiên lý, Đạo, Thượng đế (God, Dieu).
Từ chỗ vô phân biệt, vậy cái gì phân biệt sóng tiềm năng thành 18 loại sóng khác nhau và thành 18 loại hạt cơ bản và cuối cùng cấu tạo thành vũ trụ vạn vật ?
Phật giáo trả lời đó là Tâm và biểu hiện cụ thể là tâm niệm của chúng sinh, đặc biệt là của con người. Có người vặn lại : con người chỉ mới xuất hiện khoảng 3 triệu năm, còn vũ trụ đã xuất hiện 13,8 tỷ năm, trước khi có con người thì làm sao có tâm niệm ?
Bắt bẻ này mắc kẹt trong thời gian. PG đã nói thời gian, không gian, vật chất, đều không tuyệt đối có thật, số lượng cũng không có thật, nên con số 13,8 tỷ năm hay 3 triệu năm chỉ là ảo tưởng của con người mà thôi. Từ khi con người xuất hiện và có nền văn minh thì con người mới thấy có vũ trụ vạn vật, và đặt ra giả thuyết Big Bang và nhiều giả thuyết khác. Thực tế thì bản chất của vũ trụ vạn vật, con người đều là tánh không, là sóng tiềm năng vô tự tính, vô phân biệt, xưa nay vẫn vậy, ngay hiện tại bây giờ cũng vậy, phân biệt tạo tác chỉ là tâm niệm không có thực thể. Tâm là sóng, Vật là hạt. Hai hình thái tương phản nhưng đồng nhất thể. Tâm hay sóng tiềm năng là vô phân biệt. Hành giả đạt tới vô tâm cũng chưa phải là giác ngộ. Thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan 白雲守端(1025-1072CN)đời Tống nói:
莫謂無心云是道 Mạc vị vô tâm vân thị đạo Đừng nói vô tâm là đạt đạo
無心猶隔一重關 Vô tâm do cách nhất trùng quan Vô tâm cách đạo một trùng quan (cửa ải)
Bởi vì vô tâm là không có tâm niệm, vô tâm thì hạt chưa xuất hiện. Vô tâm thì không có vật chất, không có vũ trụ vạn vật, không có không gian thời gian, không có cuộc sống.
Phái Toàn Chân Đạo chủ trương Tam giáo đồng nguyên, nói : Một quyền đập nát hư không (Nhất quyền phấn toái hư không 一拳粉碎虛空).
空靈虛幻入凡塵 Không linh hư huyễn nhập phàm trần Linh tánh từ không nhập phàm trần
仙佛儒修一念間 Tiên Phật Nho tu nhất niệm gian Tiên Phật Nho chỉ trong một niệm
抽添有減總由虛 Trừu thiêm hữu giảm tổng do hư Dù thêm hay bớt đều hư huyễn
粉碎虛空成大覺 Phấn toái hư không thành đại giác Đập nát hư không mà giác ngộ
Nghĩa là không cái gì là có thật, kể hư không, tất cả đều do tâm tạo ra (Nhất thiết duy tâm tạo).
Năm 1982 ở Đại Lễ Đường Nhân Dân Trung Quốc tại Bắc Kinh, Trương Bảo Thắng đã dùng đặc dị công năng để chứng tỏ vật chất không có thực thể. Trước mặt đông đảo các nhà lãnh đạo TQ và các nhà khoa học. Người ta đặt hai quả táo vào trong một thùng sắt và hàn kín thùng lại. Trương Bảo Thắng đã dùng tâm lực lấy một quả táo ra khỏi cái thùng sắt mà nắp đã bị hàn kín. Nếu quả táo là có thật, thùng sắt là có thật thì làm sao lấy được quả táo ra khỏi thùng sắt ?. Sau đó mở nắp thùng sắt thì thấy chỉ còn một quả táo trong thùng, còn quả kia đã được lấy ra ngoài bằng tâm lực và còn nằm ở một góc của khán đài.
Bộ trưởng Bộ Tài chính TQ lúc đó là Bạc Nhất Ba 薄一波 đã bắt tay chúc mừng Trương Bảo Thắng biểu diễn thành công.

Kết luận : Cách Vật trí Tri là một nguyên tắc được nêu ra trong sách Lễ Ký từ thời đại của Khổng Tử. Thời xưa con người chưa có đủ tri thức, khả năng, trình độ để cách vật hiệu quả. Các nhà Nho loay hoay mãi cũng không thực hiện được cách vật trí tri cho đúng đắn, chỉ có thể suy nghĩ và thực hành lệch lạc làm hại rất nhiều cho xã hội, trói buộc tư tưởng con người, trói buộc phụ nữ rất khắt khe. La Khâm Xuyên đời Minh nêu được nguyên tắc khá đúng để cách vật trí tri nhưng không ai thực hiện được. Ngay cả ngày nay khi khoa học đã rất phát triển, cách vật đã được thực hiện rất sâu rồi, vẫn còn rất nhiều nhà khoa học, ngay cả những người thuôc tầm cỡ thế giới từng đoạt giải Nobel Vật lý, vẫn còn mơ hồ. Bởi vì đây là một vấn đề triết học và khoa học cực kỳ khó. Tuyệt đại đa số con người vẫn không thể nào tin nổi rằng không gian, thời gian, số lượng vật chất, vũ trụ vạn vật, chỉ là tâm niệm, do tâm tạo chứ không phải tuyệt đối có thật.
Truyền Bình