Cựu SV 2 Khóa LƯƠNG VĂN CAN (69-73) & HUỲNH THÚC KHÁNG (70-74) – ĐHSP HUẾ

BÓI KIỀU

Lê Thí (SĐ-HTK)

Không biết trời xui đất khiến thế nào hôm qua tôi đã ngồi kể câu chuyện này. Sáng nay mới hay hôm qua là đám giỗ ông nội vợ ở quê! Lạ thiệt!

Lại chuyện … bói Kiều

Nhạc phụ tôi là người có quê gốc ở làng Phú Bông, Gò Nổi (Điện Phong – Điện Bàn). Sinh thời ông rất tin chuyện bói Kiều. Trong nhà ông có một quyển Kiều gồm cả phần chữ Nôm và Quốc ngữ do ông nội để lại. Ông kể thời kháng chiến I, gia đình ông nội tản cư vào chợ Đo Đo (Bình Quế, Thăng Bình). Sáng mồng Một Tết năm 1952, ông nội giở quyển Kiều ra để bói một quẻ và gặp câu: Bốn phương mây trắng một màu/ Trông vời cố quốc biết đâu là nhà. Ông nội rất lo vì sợ phải gửi thân nơi quê người (trông vời cố quốc). Chỉ chưa đầy một tháng sau ông nội qua đời. Do đang có chiến tranh nên không thể đưa về quê an táng được. Điều này làm nhiều người trong gia đình tin vào sự ứng nghiệm của câu Kiều mà ông nội bói vào ngày đầu năm.

Vào dịp Tết con cháu trong họ thường đến chúc Tết nhạc phụ tôi và thường hay xin ông để bói một câu Kiều từ quyển sách mà ông nội để lại.

Mồng Một Tết năm đó tôi chở vợ chạy xe máy từ Đà Nẵng về để chúc Tết ông bà. Đến nơi tôi giả vờ dựng xe thật lâu, để vợ vào nhà trước nhằm tránh làm người “đạp đất” nhà ông, rủi trong năm có gì không như ý, không bị ông …chê. Vào nhà chào xong tôi hỏi ngay: Năm nay ai đạp đất nhà mình rứa ba, hay là vợ con, con gái của ba!

Biết ý, ông cười bảo: Sáng nay có vợ chồng cháu T từ Đà Nẵng về quê có ghé chúc Tết rồi! Tôi thở phào nhẹ nhỏm. (Chị T là con ông bác cả).

Sau đó ông kể chuyện anh C chồng chị T có bói câu Kiều mà ông bảo không được tốt vì giống với câu ông nội bói hồi còn tản cư ở Đo Đo và sau đó phải gửi thân xứ người.

Biết anh C chồng chị T là con nhà “cách mạng nòi”, đang làm việc cho một công ty liên doanh với nước ngoài. Mặt khác cũng để đánh tan nơi ông những ám ảnh từ một câu Kiều bói được của ông nội từ gần 50 năm trước (và đã từng gây ấn tượng) tôi liền “lý luận”: Hoàn cảnh thay đổi rồi ba ơi. Tuy cùng bói được một câu Kiều như nhau nhưng ông nội phải gửi thân xứ người còn anh C sẽ được xuất ngoại. Con bảo đảm với ba. Ông im lặng không nói gì nhưng có lẽ chẳng tin gì vào ý kiến của cậu rể… giáo viên (cái thời thầy giáo … tháo giày) để bớt lo lắng!.

Đúng như tôi đoán, năm đó anh C rể ông bác được sang Nhật trong một chuyến công tác dài ngày (hồi đó được đi nước ngoài không phải chuyện dễ)! Từ đó có lẽ nhạc phụ tôi không còn tin tưởng 100% vào chuyện bói Kiều (chắc chỉ còn khoảng 90%!) và tự nhiên uy tín của tôi cũng tăng thêm vài % (con số đủ để tôi tiếp tục làm rể ông!)

Chuyện đã gần 40 năm. Hôm nào gặp chị T, anh C chắc phải nhắc lại chuyện này thử anh chị còn nhớ không. Nhưng chắc chắn dù nhớ hay không anh chị cũng cho uống một bữa Tiger say … toét máy đo độ cồn!

L.T

***

Đêm Cầu Cơ

Lê Nhựt Thăng (BP59)

Tôi muốn ghi lại đây câu chuyện cầu cơ mà tôi thường kể lại cho các em học sinh nghe lúc tôi còn đi dạy tại Saigon. Các em thích nghe câu chuyện siêu hình này vì nó thỏa mãn phần nào óc tưởng tượng của tuổi học trò.

Câu chuyện xảy ra lúc tôi còn là một học sinh trường Pháp. Ngôi trường mang tên “Collège Français de Tourane”, trước là một bệnh viện của quân đội Pháp tại thành phố Đà Nẵng. Nói đến Đà Nẵng (người Pháp gọi là Tourane), tôi nhớ lại con sông Hàn chảy dài theo thành phố với những chiếc ghe đánh cá, những cái thúng mây tròn lớn được chèo đi lại từ ghe đến bờ sông, dãy núi Sơn Trà và Non Nước. Non Nước là một cảnh đẹp thần tiên, gồm có năm đỉnh núi nhỏ (còn gọi là Ngũ Hành Sơn) và hang động với thạch nhũ tương tự như Luray Caverns ở Virginia. Đá cẩm thạch đã được lấy ra từ núi để tạc thành tượng Phật. Một tượng Phật lớn đã được dựng trong hang động và khách thập phương đã đến cầu nguyện trong không khí huyền bí và vắng lặng của thiên nhiên. Tôi cũng không quên các tượng đá với đường nét điêu khắc tuyệt hảo trong “Bảo tàng viện Chàm” (Musée Cham) của thành phố Đà Nẵng. Các pho tượng là di tích của nền văn minh Chàm và cũng là dư âm của nỗi buồn diệt chủng.

Tôi xin trở lại câu chuyện cầu cơ. Tôi là học sinh nội trú của trường nói trên nên còn nhớ những cảnh vật quanh trường. Trường chia ra thành hai khu nội trú, một dành cho nam và một cho nữ, nhưng phòng học và phòng ăn thì chung. Hai khu nội trú chỉ cách nhau một chiếc cầu nhỏ ẩn mình dưới một cây đa lớn. Những mối tình vụn trộm và lãng mạn cũng đã được nẩy sinh quanh chiếc cầu và gốc cây đa là nơi hẹn hò lý tưởng. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là cây đa cao lớn, âm u, đầy vẻ ma quái trong những đêm trăng mờ ảo. Mỗi lần đi học về, băng qua cây cầu và cây đa, tôi đã tưởng tượng đến một thế giới vô hình. Hơn nữa, vì ngôi trường trước kia là bệnh viện, một cảm giác lạ lùng thường xâm chiếm lấy trí óc tôi.

Ý nghĩ cầu cơ đến với tôi trong bối cảnh ấy. Tôi rủ một số bạn trong trường, sau giờ học buổi tối và sau khi tất cả học sinh khác đi ngủ, đến một phòng bỏ trống để cầu cơ. Căn phòng này thật đặc biệt vì trước kia là phòng mổ của bệnh viện, tường trắng toát, không khí lạnh lùng, và có một cửa sổ nhìn ra bãi tha ma. Đó là khung cảnh lý tưởng để cầu cơ. Vật dụng để cầu cơ gồm có một con cơ hình quả tim được đẽo từ ván hòm, một bàn cầu cơ bằng giấy, hương và hoa quả để cúng. Chúng tôi chọn ba người để tay vào con cơ và trực tiếp đặt câu hỏi nhưng số người đứng tham dự chung quanh thì nhiều hơn. Tôi tin rằng số người tham dự đông thì “nhân điện” gián tiếp giúp con cơ chạy mạnh hơn và tiềm thức tập thể ảnh hưởng buổi cầu cơ mạnh hơn.

Một trong ba chúng tôi bắt đầu đọc bài cầu cơ. Tôi không còn nhớ rõ nguyên văn bài cầu cơ này. Nhưng tôi còn nhớ nội dung lời cầu, đại ý gọi hồn người khuất mặt nhập vào cơ, lời cầu nghe rất buồn và gây một cảm giác “lạnh người” như có luồng âm khí trong phòng. Xen vào đó là mùi hương ngào ngạt, cây đèn cầy cháy leo lét trong đêm… Không bao lâu thì con cơ bắt đầu di động, càng lúc càng mạnh và bắt đầu trả lời những câu hỏi.

– Có phải hồn nhập vào cơ không ?

– Phải.

– Xin cho biết tên gì.

– Tôi tên là Hà Mai Anh.

– Xin cho biết tuổi.

– Tôi được 17 tuổi khi lìa trần thế.

– Vì sao cô lại qua đời quá sớm ?

– Hồng nhan bạc mệnh. Tôi buồn lắm, nhưng thôi nói để làm chi.

Chúng tôi nhìn nhau kinh ngạc và thương xót cho kẻ khuất mặt, có một cái tên rất đẹp và chắc chắn là có nhan sắc và học thức vì cô đã dùng những chữ “hồng nhan bạc mệnh”. Chúng tôi hỏi tiếp :

– Cô hiện giờ ở đâu ?

– Tôi ở nơi một sườn núi, xa lắm…

– Tại sao cô lại nhập vào cơ để nói chuyện ?

– Tôi thích các anh, mổi đêm thường đến chơi và cũng để nghe tiếng đàn…

Câu trả lời đã làm cho chúng tôi giựt mình. Chúng tôi biết là trong trường có một anh tên Đ. thường chơi vĩ cầm mổi đêm, tiếng đàn rất hay và buồn.

– Có phải cô muốn nói tiếng đàn của anh Đ. không ?

– Phải.

– Cô thích nghe bản đàn gì ?

– Tristesse de Chopin.

– Cô có muốn nghe bản đó bây giờ không ?

– Có.

Thế là chúng tôi mời ngay anh Đ. đến đàn bản nhạc cô Mai Anh thích. Trong khi anh Đ. đàn thì con cơ ngưng nói chuyện, chỉ chạy qua chạy lại như đang chăm chú nghe nhạc… Và khi bản nhạc vừa dứt thì cô Mai Anh khen :

– Anh Đ. đàn hay quá và bản nhạc nghe thật buồn.

Lúc bấy giờ tôi thầm nghĩ, người đẹp cõi âm mà thích thì nguy lắm, chẳng khác gì truyện tình liêu trai.

Để biết thêm về cô Mai Anh, chúng tôi hỏi :

– Cô Mai Anh biết làm thơ không ?

– Biết.

Cô Mai Anh ngừng vài giây và giáng hai câu thơ lục bát mà không bao giờ tôi có thể quên được :

Âm dương cách biệt đôi đường

Hồn Mai Anh ở nơi sườn đồi Nam.

Hai câu thơ trên đúng vần điệu và rất có ý nghĩa. Cô Mai Anh hình như luyến tiếc cõi trần vì đã ra đi trong tuổi xuân xanh. Lúc bấy giờ tôi cảm thấy buồn vô hạn, kẻ mình đang nói chuyện tuởng như đang đứng trước mặt nhưng lại ở một thế giới siêu hình xa xăm.

Vì đã quá khuya nên buổi cầu cơ tạm chấm dứt. Chúng tôi hẹn gặp lại cô Mai Anh đến hôm sau. Đêm hôm đó tôi thao thức không sao ngủ được.

Đêm hôm sau, như đã hẹn trước, chúng tôi vừa ngồi vào bàn cầu cơ là cô Mai Anh nhập vào liền. Chúng tôi vui mừng và cảm động như gặp lại người thân yêu. Lúc bấy giờ chúng tôi không nghĩ là đang nói chuyện với “ma”. Sau một lúc hàn huyên tâm sự, chúng tôi đặt câu hỏi :

– Cô Mai Anh có nói là “âm dương cách biệt”, nhưng cô có thể hiện ra cho chúng tôi gặp không ?

– Có thể được, nhưng phải chờ đến 12 giờ đêm nay.

– Cô sẽ hiện ra ở đâu ?

– Ở duới gốc cây đa, bên cạnh chiếc cầu.

Tự nhiên lúc đó tôi cảm thấy lạnh cả người và thật sự tôi nghĩ đến chuyện “ma”. Nhưng vì muốn thỏa mãn sự tò mò, sự sợ hãi của tôi đã biến thành thích thú lạ thường. Chúng tôi hỏi :

– Lúc hiện ra cô như thế nào ?

– Tôi sẽ hiện ra với hình dáng hơi lờ mờ và sẽ mặc một tà áo trắng dài.

Chúng tôi nôn nóng chờ chuông đồng hồ gõ 12 tiếng. Cô Mai Anh bảo là phải chờ đúng 12 giờ đêm mới hiện ra. Trong trí tôi là hình ảnh một cô gái đẹp, một vẻ đẹp liêu trai, hiện ra bên góc cây đa, dưới ánh trăng mờ ảo, tà áo trắng phất phơ trước gió… Nhưmg một phút trước 12 giờ đêm, con cơ lại chạy và cô Mai Anh nói :

– Tôi nói sẽ hiện ra là chỉ để đùa với các anh thôi. Thật sự tôi không hiện ra được. Các anh quên rồi sao, “âm dương cách biệt” thì làm sao gặp nhau được !

Tôi thất vọng vô cùng. Nhưng tôi vẫn hiểu ý cô Mai Anh thể hiện trong hai câu thơ lục bát :

Âm dương cách biệt đôi đườngHồn Mai Anh ở nơi sườn đồi Nam

Từ ngày ấy tôi không còn cầu cơ. Nhưng tôi vẫn thích kể câu chuyện trên vì tôi tin rằng Hà Mai Anh có thật trong thế giới vô hình.

Trong câu chuyện cầu cơ, Hà Mai Anh có nói đến nơi cô ta đang ở, trong câu thơ “Hồn Mai Anh ở nơi sườn đồi Nam”, tôi nghĩ đó là sườn núi Sơn Trà.

Lê Nhựt Thăng (Cựu HS Lycée Pascal Đà Nẵng, khóa đầu tiên, tốt nghiệp Tú tài năm 1959, cung lớp với thầy Nguyễn Văn Chánh cựu GS Quốc Học, giảng viên Pháp văn môn Sinh ngữ căn bản Viện ĐH Huế)

Virginia, một đêm mưa buồn

***

Nhân đọc bài về cầu cơ ở Collège Français de Tourane (Đêm Cầu Cơ, Lê Nhựt Thăng (BP59)), nhớ lại vào khoảng 1957-1958, chúng tôi cùng các anh lớn hơn leo chui qua mái nhà (đường couloir nối hai nhà nội trú) lên sân thượng cầu cơ. Có anh Nguyễn Đình Nghĩa (sau này là “sáo thần của Việt nam) thổi sáo.Tôi còn nhớ một phần bài cầu cơ như thế này :

Cơ huyền diệu lẽ trời khôn thấuKiếp phù sinh kết cấu thành ngườiCòn đâu tiếng khóc câu cườiCòn đâu để thấy cuộc đời tối tămTrời ảm đạm mưa gầm gió rétNgoài trời kia hiu hắt gió sươngÂm dương xa cách đôi đườngMà trong cội rễ vốn dường như nhauCái sanh hóa người sau kẻ trướcDắt dìu nhau mà bước qua đòMấy lời tâm sụ nhỏ toHồn ai qua đó cho ta nhắn cùngHoặc hồn ở bờ sông ngọn suốiHoặc hồn chơi bụi chuối cành đaHoặc nương bóng chiều tàHoặc hồn lẩn quất la đà mây xanh.Mau mau nhập vào đàn cầu khẩnĐừng ngập ngừng thơ thẩn chi đây…

Hồ Văn Hiền (BP65)

Nguồn: Trích từ Giai phẩm Lycée Pascal 2025 – Kỷ niệm 70 năm thành lập trường BP (1955-2025).