Bài viết gốc thuộc về Viktor Marchev trên Medium.
Tôi viết bài này với tư cách một nhiếp ảnh gia, và cũng là một quan sát viên. Trải qua 2 năm chụp ảnh đời sống (và nhiều hơn thế), tôi đã nhận ra rằng nghệ thuật nhiếp ảnh luôn luôn bị xét nét đến mức khắc nghiệt. Đặc biệt là một khía cạnh cụ thể như nhiếp ảnh đường phố, đã làm nổ ra hàng loạt ý kiến trái chiều về tính đạo đức và tính pháp lý của nó, và không biết liệu có đôi khi vướng vào cả hai vấn đề đó cùng lúc hay không.
Nhiếp ảnh đường phố là gì?
Về bản chất, ảnh đường phố có mục đích thể hiện đời sống ở những nơi công cộng, đặc biệt là trong không gian đô thị. Kiểu chụp ảnh này thường được cho là khá vô tư, không sắp đặt – mà theo quan điểm của tôi, nó làm nên điểm mạnh cho thể loại này.
Vấn đề hiện nay là gì?
Đối với những người như tôi, luôn mong muốn ghi lại cảm xúc của những người trên phố qua lăng kính nhiếp ảnh, lại thường phải đối mặt với những mối bận tâm về đạo đức và pháp lý. Mặc dù thể loại nhiếp ảnh này nhằm mục đích thể hiện một cuộc sống đô thị chân thực và thô sơ nhất, nhưng nó vẫn có thể gây ra các cuộc tranh luận về tính nhân văn và đạo đức của người bấm máy.
Tuy nhiên, tôi phải công nhận rằng có sự khác biệt rất lớn giữa hợp pháp và hợp đạo đức, vì vài lúc nó có thể hợp pháp nhưng không hợp đạo đức, và ngược lại.
Có lẽ, điều khó khăn nhất đối với tôi khi chụp đường phố có lẽ là nhận định xem việc chụp ảnh người đó trong không gian công cộng đó có xâm phạm quyền riêng tư của họ hay không.
Thật khó mỗi khi phải nói về vấn đề này, vì trong phần lớn thời gian thực hành nhiếp ảnh, bạn sẽ chẳng biết được lúc nào là xâm phạm quyền riêng tư của người khác, lúc nào thì không. Một vấn đề nữa là liệu hình ảnh bạn đăng tải lên có gây ra tổn thương hay bất kỳ mối nguy hại nào cho đối tượng trong ảnh hay không.
Từ khi GDPR (Quy định Chung về Bảo vệ Dữ liệu) được ban hành, những cá nhân như tôi bắt đầu lo lắng về mức độ ảnh hưởng của nó đến việc thực hành nhiếp ảnh của mình. Trong bài viết GDPR cản trở các nhiếp ảnh gia ra sao?, Hendrik Wieduwilt lập luận rằng những quy định mới này:
“Biến nhiếp ảnh đường phố trở thành cơn ác mộng hợp pháp.”
Tuy nhiên, ở LB Đức, Tòa án Hiến pháp đã phán quyết loại hình nhiếp ảnh này được bảo vệ bởi hiến pháp, vì nó được coi là một nghệ thuật. Trong khi đó, ở Pháp, nếu bạn chụp ảnh một người mà không có sự cho phép của người đó, thì về cơ bản, bạn đang vi phạm pháp luật.
Thế rốt cuộc là chụp hay không chụp?
Ở đây ta sẽ đề cập đến việc liệu nhiếp ảnh gia có nên tự ý chụp một người trong khi người đó đang thụ động không thể tránh được sự xuất hiện của một nhiếp ảnh gia trong tình huống hoặc sự kiện như vậy hay không. Cụ thể hơn, nó liên quan đến những người đang phải chịu đau đớn, thống khổ, hoặc sốc tinh thần, vào cái khoảnh khắc bấm máy ấy, sự riêng tư của họ đã bị xâm phạm.
Theo hiểu biết của tôi về vấn đề đạo đức của con người, ai cũng đều có những điều mà họ giữ riêng cho bản thân mình – những hỷ nộ ái ố mà không một ai khác được phép nhận ra hay ghi lại.
Tôi nghĩ rằng đôi khi nó sẽ dẫn đến trái ngang – mất mát của ai đấy lại là may mắn của người chụp ảnh. Bởi vì, nói chung, hình ảnh về những người thống khổ luôn mang lại hiệu ứng cảm xúc mạnh mẽ hơn so với hình ảnh về những người đang vui. Đó là lập trường của tôi và có lẽ cũng là lý do tại sao tôi thường thích chụp những bức hình trầm buồn hơn là những bức hình vui tươi dễ thấy.
Trong bài báo Cách nhiếp ảnh lợi dụng những đối tượng dễ bị tổn thương đăng trên The New York Times, Ryan Jones viết:
“Có quá nhiều bức ảnh vô nghĩa về những kẻ đang đâm kim tiêm vào da thịt mình và những xác chết trương phình được đưa ra khỏi những căn hộ bẩn thỉu.”
Thế mới nói, những người đằng sau ống kính máy ảnh không phải lúc nào cũng giữ được tính nhân đạo khi bấm máy, nhất là khi chụp những kẻ nghiện ngập.
“Những người bị chụp hình sẽ không bao giờ được giải thoát khỏi những nỗi thống khổ mà họ vướng phải, bởi vì những bức ảnh đó sẽ khiến một hành vi đơn lẻ trở thành một tính trạng tồn tại vĩnh viễn.”
Thẩm mỹ và đạo đức
Nhìn chung, thẩm mỹ là một khía cạnh khó xử lý trong nhiếp ảnh, trong khi vấn đề đạo đức thì dễ xoay sở hơn nhiều.
Sẽ khá lằng nhằng nếu người ta cứ mãi tranh cãi về chuyện liệu một bức ảnh có kỳ cục đến mức không được đăng tải công khai hay không.
Thẩm mỹ của mỗi người khác nhau. Nhưng, cuộc tranh luận về đạo đức không chỉ dựa vào ý thích cá nhân, mà phải dựa trên các nguyên tắc đạo đức đã được xây dựng trước đó mà thường ít mang tính cá nhân hơn.
Thông thường, với tư cách là những nhiếp ảnh gia, chúng ta cố gắng hết sức để ghi lại những cảm xúc và khoảnh khắc chân thực nhất của con người. Trong quá trình phấn đấu đạt được điều đó, chúng ta có thể sẽ chụp ra những tấm ảnh thực sự gây khó chịu khi nhìn vào. Đó là lý do tôi nghĩ rằng mỗi bức ảnh có thể là kiệt tác với người này, nhưng lại là sự tái hiện thực tại vô cùng xấu xí đối với người khác.
Vậy, cái ranh giới mỏng manh đó nằm ở đâu?
Vào lúc cuối ngày, nhiếp ảnh gia sẽ phải đưa ra lựa chọn nên đăng tải hình ảnh đó ở đâu. Một khi nó được xuất bản, anh ta sẽ phải chịu trách nhiệm với nó.
Nhiếp ảnh đường phố suy cho cùng cũng chỉ xoay quanh việc ghi lại những khoảnh khắc kỳ diệu trong cuộc đời của một ai đó, bất kể là buồn hay vui. Nó là hình ảnh chân thực về cuộc sống. Đây chính là cách mà cuộc sống vận hành.
Nhưng, nhiếp ảnh đường phố đôi khi cũng là điều gì đó vô lương tâm, mang tính xâm phạm, thậm chí là lợi dụng.
Với sự xuất hiện ngày càng nhiều của những người sử dụng nhiếp ảnh cho lợi ích thương mại, cộng đồng thực hành nhiếp ảnh lại càng phải chú ý đến những chuẩn mực đạo đức trong mảng này, và nên tự hiểu rằng có những giới hạn thực sự không nên bước qua.