Thuỷ Ngân

Hà Nội vừa trải qua cơn bão lớn, bão làm đổ những cây cổ thụ lâu năm với từng chùm rễ gân guốc, cứng rắn găm sâu vào nền đất Thủ đô sau bao dời chuyển của thời gian. Ấy vậy mà, sau lay động của đất trời, nhiều chùm rễ cứng bật lên, làm cây đổ xiên ngang nhiều tuyến phố. Cũng lúc đó, những cơn mưa giăng tàn dư khi bão suy giảm lại trút xuống. Hình như nghe trong tiếng mưa đôi lời rấm rứt, than dài hay lòng mình cũng trở nên hoang hoải, còn ngập ngụa trong những nỗi thầm thì rất mực buồn từ “Đội gạo lên chùa” của bác Nguyễn Xuân Khánh.

Cuốn tiểu thuyết khá đồ sộ gần 800 trang được mua cách đây vài năm, hình như từ đợt dịch. Chẳng biết sao lại muốn mua, mua nhưng chỉ đọc rất nhát gừng, nhớ rằng hồi đó đang cuồng si cách dùng chữ mĩ miều, hoa lệ nên nay giở lại vẫn thấy kha khá những dấu án tô lên về những câu văn/ cụm từ/ chữ nghĩa hay ho. Có những cuốn sách rất hợp với lòng nhưng sự hợp phải được công nhận bởi thời gian, tức là lúc mua thấy hợp song chưa đọc ngay được, cảm thấy lòng chưa nên duyên để đọc. Rồi cuốn sách dày cộm cứ ở đó, sừng sững như ngọn núi nhỏ ở một ngăn kệ sách, vẫn mới tính, vẫn trang nghiêm chỉ để đợi chờ đến một dịp, gia chủ bỗng tìm lại, lật giở rồi say mê và thổn thức, rồi lại như ngộ ra, ủ rũ và viết lại. Cuốn sách, tự thân đã tự tìm đến khi thời điểm đúng đắn.

Cuốn sách nằm trong bộ tam tiểu thuyết đồ sộ đan quện giữa lịch sử, phong tục – văn hoá của Nguyễn Xuân Khánh, bên cạnh hai cuốn “Hồ Quý Ly” và “Mẫu Thượng Ngàn”. “Hồ Quý Ly” là tiểu thuyết sử mượn một nhân vật có thật ở quá khứ rất xa, “Mẫu Thượng Ngàn” mượn tinh thần đạo Mẫu còn “Đội gạo lên chùa” lấy Phật giáo làm trung tâm, rải rắc triết lý đạo Phật xuyên suốt. Cuốn sách là bức tranh lớn tổng hợp nhiều cảnh đời mà đời nào cũng là một thiên tiểu thuyết li kỳ vắt qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ và đi qua những sự kiện “long trời lở đất” của thời đại như: Cải cách ruộng đất để cuối cùng kết thúc ở thời nước nhà hoàn toàn độc lập, người người nhà nhà tăng gia sản xuất. Song, truyện tập trung đi theo mạch hồi tưởng và trình tự cảm xúc của nhân vật An – cậu bé thôn quê phải chạy khỏi quê hương cùng chị gái sau khi cha mẹ bị giặc Pháp giết hại, để rồi số phận đẩy đưa được sư cụ Vô Uý nhận nuôi, trở thành chú tiểu chùa Sọ, sau là sư thầy Khoan Hoà vào B đánh giặc và cuối cùng trở về đời sống trần tục sau giải phóng. Cùng với chú tiểu An, truyện cũng khắc hoạ sâu sắc các nhân vật liên quan mật thiết như: sư cụ Vô Uý, sư bác Khoan Độ, sư thúc Vô Trần, chị gái Nguyệt, cái Huệ, thằng Căn, cô Nấm,…Mỗi người đều có cuộc đời nhiều thăng trầm và bước ngoặt, song, vượt lên những thống khổ và điên loạn của thời cuộc, nhân vật nào cũng lấp lánh tâm từ bi, gián tiếp hoặc trực tiếp, “lạc đạo” rất tuỳ duyên.

Do năng lực hạn chế nên tôi sẽ không tìm một thuật ngữ khoa học để phân tích dựa vào mà chỉ khiêm tốn liệt kê một vài điểm để lại trong tôi nhiều trăn trở khi đọc đến chữ cuối cùng. Đây là điều tôi lờ mờ hiểu ra hoặc khiến tôi xúc động sâu sắc và trải vào lòng tôi sự dịu dàng man mác rất thiện lành.

1. Triết lý Phật giáo xuyên suốt tác phẩm

Trước khi đọc sách, nhận thức của tôi về Đạo rất mơ hồ và chấp chứa nhiều phần mông muội. Tôi cảm thấy mình không thể thấm nhuần được tư tưởng quá cao siêu của Phật giáo, rằng ta hãy cố gắng dưỡng nuôi tâm lành và tu tập để tìm được Niết Bàn. Song, nỗi đau khổ còn đây, sự mịt mùng còn đây thì làm sao gắng sức để tu, để có cơ hội tìm được Niết Bàn. Đến khi đọc “Đội gạo lên chùa”, tôi thấm thía hơn một chút ở tư tưởng: Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Phật Giáo rời xa thế gian song cũng vượt siêu khỏi thế gian, không phải cứ buông bỏ tất cả lên núi là đi tu, cũng không phải đọc sách Phật và năng đi chùa mới là đi tu. Người ta có thể tu trong ngục tù, giữa trường học, trên đường làm ăn, giữa nơi xáo trộn đô thành, càng ở những nơi ít an tịch nhất, lòng tu mới được thử thách và biết đâu, sẽ đạt hạnh ngộ. Phật dạy người ta về lòng từ bi, để dù ta ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng giữ lòng tư bi để tương tác với nghịch cảnh thay vì phản ứng với nghịch cảnh bằng những suy nghĩ sân si và thù hận. Ý “rời xa thế gian” là vậy, tức rời xa những điều tiêu cực, xấu xí, nhằng chéo làm ta khổ đau. Nhưng ta cũng cần tuỳ duyên, tức dựa vào tình cảnh mà linh hoạt chớ nên tu cực đoan. Cần làm thì phải làm bằng trọn dẫu hành trình có mệt nhọc và ồn ã, cần đối mặt vẫn phải đối mặt và chọn lựa chứ không phải buông bỏ hay chỉ ghim vào lập luận mình coi là chân lý. Bản thân Phật Hoàng Trần Nhân Tông cũng đánh quân Mông – Nguyên 2 lần, bàn tay có máu quân thù và con mắt ám mùi chiến trận, song khi đất nước thái bình, Ngài cởi chiến bào để trở về chùa, làm một người tu chân chính. Hay như sư cụ Vô Uý – bậc chân tu đích thực. Cả đời làm theo lời Phật, chỉ một lòng nhang đèn cho nhà thờ tổ, song khi cách mạng nổ ra, cụ chấp thuận cho sư đệ Vô Trần đào hầm, sẵn sàng giúp đỡ mẹ con cô Nấm, bị tra tấn suýt mất mạng vẫn một lòng bảo vệ cứ điểm cách mạng, đồng ý cho An đi B, tuân theo mọi mệnh lệnh cải cách của chính quyền mới. Phải nói, cụ đã hoà mình vào dòng chảy lịch sự, đi qua hai giai đoạn từ chữ Nho đến chữ Quốc ngữ, tiếp thu linh hoạt đặc trưng của mọi thời, đối mặt trực tiếp với biến thiên thời cuộc song dù đối mặt với dâu bể nào, chịu đau đơn ra sao hay có những lúc tưởng chừng không trụ nổi thì cụ vẫn không dừng thiền, không dừng tu, luôn rải tâm từ bi cho tất thảy người và vật quanh mình, cả đời đức độ như một vị Bồ Tát, không oán thán giận hờn dầu sóng gió cứ ập đến từng đợt mà đợt này cũng “long trời lở đất”. Thực là một người vừa rời xa thế gian, vừa siêu việt khỏi thế gian. Hoặc sư bác Vô Trần, dù luyến lưu trần thế và sau làm chính uỷ, cũng chưa từng quên lời dạy của Đức Thế Tôn, linh hoạt và mềm dẻo vận dụng phương châm của Phật giáo vào chính trị, vẫn luôn là đệ tử ruột của sư tổ Vô Chấp, sư đệ của sư cụ Vô Uý, không khắc nào quên mình là người con của Phật, lớn lên dưới bóng Phật. Và cả chính An, bị số phận xô đẩy xa quê, lớn lên nương bóng nhà Phật, trở thành sư thầy chân chính. Song, khi Tổ Quốc gọi tên, cậu sẵn sàng lên đường, trở thành người lính xuất sắc, giữa chiến trường coi bạo lực là cốt lõi và sự sống bị rình rập, cậu thà bắn lên trời chứ không bắn vào người bên kia chiến tuyến, thậm chí còn kết hữu được với người lính bên kia mà sau hai người có cuộc hội ngộ đáng nhớ. Cậu luôn thực hành theo lời sư cụ dạy, thấm nhuần tư tưởng từ bi và dần học cách lạc đạo giữa trần tục. Ngoài ra, tiểu thuyết còn phá bỏ định kiến “trông mặt mà bắt hình dong” bao đời, tập trung vào tâm tướng thay vì tướng mạo, luôn trân trọng phần thâm tâm dịu hiền dưới vẻ ngoài bặm trợn, và giúp ta sáng soi hơn sự từ bi của Đức Phật: trong khốn cùng vẫn le lói niềm tin, giữa xấu xa vẫn nhen lên vẻ đẹp. Dầu nếu ta từ bi và vị tha, ta có thể thiệt thân song nếu không có từ bi, người chẳng phải là người. Đạo Phật, chưa bao giờ, dễ hiểu và gẫn gũi với tôi như thế. Chính bản thân mình, từ những suy tư nhỏ nhất cũng giúp mình học cách tu, học cách sống, chẳng phải đâu xa vời. Quả của mình được gieo từ những ý niệm ban sơ, ta tin vào điều tốt đẹp, ta học đối diện với khổ đau, ta uyển chuyển theo vòng xoay số phận, là ta đã và đang đi trên con đường hạnh ngộ. Người gặt ít, người gặt nhiều song có nó, ta sống người hơn.

II. Hình ảnh những người con gái và phụ nữ trong truyện

Cùng với triết lý của đạo Phật, hình ảnh của những người con gái và phụ nữ cũng thấm đẫm một vẻ dịu dàng xuyên suốt tác phẩm. Đó là chị Nguyệt – người mẹ thứ hai của An, người đã bồng em đi xin sữa khắp làng trên xóm dưới hồi em đỏ hỏn còn chị mới lên bảy, chưa đầy 19 đã được coi là vợ liệt sĩ rồi đến tam tuần kết duyên bất ngờ với một kẻ nhìn bặm trợn mà tâm từ bi. Chị đẹp với hàm răng tăm tắp, cổ ba ngấn kiêu hãnh, mái tóc đen nhánh và làn da trắng sứ. Nhưng gái thời loạn nào được phô bày những vẻ đẹp ấy, chị phải nỗ lực che dấu hết nét đẹp trời ban để ngày đêm lầm lũi với bộ quần áo nâu vá chằng đụp, chiếc khăn nâu cũ rích che hết mái tóc của chị và che cả một quãng đời của chị. Chị sống âm thầm, nhạy cảm, dễ xúc động mà bền bỉ đi qua những khổ đau, tưởng yếu đuối trước đau thương mà kiên cường trong im lặng, sống trọn tình trọn hiếu, là hậu phương để An mạnh mẽ đi B. Đó là cô Nấm, nhân vật bị đưa vào bài đồng dao của làng “Ba cô đội gạo lên chùa/ Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư/Sư về sư ốm tương tư/ Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu”, song là hậu phương của gia đình để sư thúc Vô Trần lo chuyện nước, đến lúc hoạn nạn vẫn chưa được tề tựu với chồng con. Nhắc về bà Nấm, mượn lời của chị Nguyệt, quả là người phụ nữ đậm đà. Đậm đà không nằm ở vẻ ngoài dễ tàn, bà Nấm bình thường giữa đời như bao phụ nữ khác. Đậm đà ở chỗ…là người khiến ta hy vọng trong gian nguy, là người sáng tươi trong thiếu thốn, là người chu toàn cả những việc chưa đến, là người hết lòng vun vén để cửa nhà tươm tất giữa hỗn mang, là người…dám vượt qua định kiến để tìm cho mình chỗ dựa, dù chỗ dựa này, xét về lý thì thực không đúng song về tình thì thời gian đã chứng minh. Một người đàn bà sinh ra từ quê và đem cái nồng hậu, dịu dàng rất đàn bà để gia đình vượt qua nhiều ghềnh thác. Người như vậy, thực khó dứt ra, người như vậy làm ai gặp cũng nhớ mãi. Đó là cái Huệ, người bạn thơ ấu sáng trong của An, cô gái vừa tươi vui thích bông lơn mà cũng cứng rắn, ham học, nhạy cảm. Cuộc đời của Huệ, nếu nhìn từ ngoài, ta chỉ thấy đường bằng vì đôi con mắt khi nào cũng sáng, khi nào cũng lấp lánh. Nhưng để biết rõ, ta mới trân quý vô cùng sự bền bỉ, mạnh mẽ, kiên cường của cô. Huệ vừa là cô bé làng Sọ chân chất, đôn hậu, vị tha vừa là cô quân y đi qua thời chiến với những nỗi đau, sự tự ti song luôn tiến về phía trước, yêu đời, yêu người và cô không ngại thể hiện những xúc cảm chân thành, tự nhiên vậy. Rồi còn bà vãi Thẩm, chị Thuê, cái Rêu…những người con gái, phụ nữ…đến rất nhanh mà đôi khi đi thật vội, nhưng biết kỹ đời họ mới thấy họ bền bỉ và kiên nhẫn, nhịn nhục thế nào. Ẩn sau vẻ ngoài đằm thắm là tính cách kiên cường, quyết giữ lấy hạnh phúc gia đình, không chấp nhận nhún nhường số phận song cũng thật nữ tính, đảm đương, xốc xáo việc nước việc nhà, thật thuỷ chung cũng thật táo bạo. Có lẽ đây là ảnh hưởng “mẫu hệ” mà đã được lấy làm tinh thần chủ đạo trong “Mẫu thượng ngàn”. Nguyễn Xuân Khánh, dưới góc nhìn đa chiều và hiền hoà, luôn dành cho những người phụ nữ một tình cảm đặc biệt, ông bênh vực họ, thấu hiểu họ, thấu hiểu cho cả những hành động táo bạo và đôi khi ta nghĩ là gàn dở của họ, ông cho họ lý do để làm mọi sự, đôi khi thả một khoảng trắng để người đọc tự suy nghĩ đúng sai (trường hợp bà Nấm). Song, cái nhìn của nhà văn luôn là cái nhìn nhân đạo với những điểm nhìn độc đáo, đa chiều và dạt dào thương mến.

Tưởng viết được nhiều mà bút lực cạn nhanh quá, lòng vẫn ngổn ngang và đôi tay dường mỏi mệt. Trên đây là hai suy tư lớn nhất của tôi về tiểu thuyết. Thiết nghĩ, tôi cần thời gian để ngấm những ảnh hưởng của truyện vào người và cũng để thoát ra khỏi chính lòng mình, vì tôi đang dự định sẽ đọc “Mẫu thượng ngàn” của tác giả để mong tìm ra sự liên kết với hình ảnh người phụ nữ trong “Đội gạo lên chùa”. Ngoài ra, tôi cũng muốn để lại vài dòng để bày tỏ sự cảm kích đến lối văn dễ hiểu, gãy gọn của Nguyễn Xuân Khánh đã giúp tôi trơn tru hoàn thành cuốn sách hơn 700 trang mà không quá lăn tăn và khó hiểu. Tác giả chẳng dùng ngôn từ khó hiểu, dầu khi nói về Đạo Phật có một số thuật ngữ song nhìn chung, cách lý giải rất bình dân và tường minh. Ấy thế mà khi tả cảnh, cảnh làng Sọ, cảnh rừng Tây Nguyên hay tả người, tả vật, tôi vẫn hoà được vào cái tinh thần ấy rất nhanh rồi chìm đắm suốt, cái tài của nhà văn đã khắc hoạ được những điều cao cả, màu nhiệm và những phận đời rất phức tạp trong một lối hành văn giản dị, sinh động. Đọc cuốn sách, lặng ngắm mưa bay như tàn dư của bão, lòng tôi xốn xang mà trầm lặng, nghĩ rằng phận người mong manh không hơn giọt mưa buồn mà cũng vững vàng, nổi lốc nổi giông. Những thái cực chẳng can hệ mà cứ quyện hoà nhau. Và không hiểu sao, tôi nghĩ về mẹ. Người mẹ rất tốt bụng và chăm lo cho chồng con, là hậu phương vững chắc để tôi đi đến vùng đất mới và để cửa nhà sáng đèn giúp bố con tôi mừng vui và vững tâm khi trở về. Chẳng một câu “Hãy yêu lấy mẹ đi”, “Hãy sống thiện nhé bạn đọc ơi” mà sách dấy trong tôi những rung cảm ý niệm mãnh liệt. Tôi thấy tháng 8 của mình như trọn vẹn hơn biết mấy.