THẦY KÝ ĐẠC ĐIỀN HÀN MẠC TỬ
Trong hồi ký Hàn Mạc Tử trong riêng tư (cảo bản đánh máy – trang 30), Nguyễn Bá Tín ghi nhận: “Mất cơ hội đi Pháp, mộng viễn du không thành, (…) anh trở về Quy Nhơn sống với gia đình, rồi tiếp tục làm thơ viết báo. Bạn bè ngày càng kết giao nhiều, xa cũng như gần, nhờ tiếng tăm anh được Mộng Du thi xã nhắc đến trang trọng.”
Năm 1932, kinh tế Đông Dương gặp cơn khủng hoảng, cả nhà Hàn chỉ một mình trưởng nam Nguyễn Bá Nhân “chèo chống” nên không tránh khỏi khó khăn. Hàn tính chuyện đi làm để giảm bớt gánh nặng cho gia đình. Lúc ấy, ở Quy Nhơn, người gốc Huế định cư khá đông, trong số đó có thầu khoán Đỗ Phong giới thiệu Hàn một chân tập sự tại Phòng Địa chính Quy Nhơn trực thuộc Sở Địa chính tỉnh Bình Định. Dân gian bấy giờ quen gọi Sở Địa chính là Sở Đạc điền. Hàn được phân công làm thư ký công nhật ở bộ phận bảo tồn điền trạch. Theo ông Nguyễn Bá Tín, đấy là “cái việc dễ nhất, nhàn nhất và… ít tiền nhất là ngồi biên chép các tờ trích lục đã cũ, lãnh lương về chỉ đủ anh trả tiền mua báo, mua giấy và tem thư.” (1) Văn phòng mà Hàn làm việc là gian nhà mà từ năm 1969 đến nay đã trở thành tịnh xá Ngọc Nhuận, địa chỉ 5 đường Ngô Quyền, thành phố Quy Nhơn.
Thù lao nhận theo chế độ “khoán sản phẩm”, song công việc lúc có lúc không nên đương nhiên thừa thì giờ mà thiếu… tiền bạc. Dẫu sao, cũng là viên chức nhà nước, Hàn vẫn được gọi thầy ký đạc điền.
Thừa thời gian thì Hàn đọc sách, làm thơ và giao du với bạn hữu. Đọc sách, sẵn thư viện trong Hội quán (2) tọa lạc gần nhà chàng. Cơ sở này được linh mục Paul André Maheu, tên Việt là cố Mỹ, sáng lập năm 1922, cùng thời với nhà in và tờ Lời thăm các thầy giảng – bán nguyệt san mà Hàn cộng tác. Linh mục Maheu, thừa sai của giáo phận Quy Nhơn, cũng chính là người đứng ra quyên góp để xây dựng trại phung Quy Hoà (3) vào năm 1929.
“Hãy cho tôi biết anh thường hay đọc những sách gì, tôi sẽ nói anh là ai.” Danh ngôn ấy thật khó vận dụng đối với nhiều trường hợp. Như Hàn Mặc Tử giai đoạn này chẳng hạn. Quách Tấn ghi nhận trong Đôi nét về Hàn Mạc Tử rằng: “Tử rất siêng đọc sách. Trong quyển sổ ghi tên người mượn sách của thư viện Quy Nhơn, người ta thấy tên Tử chiếm gần nửa phần! Các bạn thân gọi bỡn thằng nghiện sách.” Theo trí nhớ của bằng hữu và gia đình thì Hàn đọc… tùm lum, từ sách thần học, triết học, lịch sử, địa lý đến truyện, thơ. Hàn nghiền ngẫm sách thần học, giáo lý Kitô, rồi đem ra tranh cãi với bà chị kế. Ông Nguyễn Bá Tín kể: “Chị Như Lễ có học, ít nhiều có khiếu văn chương, rất hợp với anh. Nhưng ngồi lại là hay tranh cãi, nhất là cãi giáo lý và chị thường bị anh chỉ trích là Pharisiêu (4) (…). Tôi nghĩ là hai chị em không có đề tài để nói chuyện ngoại trừ tranh cãi giáo lý.” (5)
Qua trao đổi trực tiếp, ông Nguyễn Bá Tín thuở sinh thời còn cho tôi biết thêm:
– Giai đoạn anh Trí học Pellerin ở Huế rồi trở lại Quy Nhơn thì tôi vào Sài Gòn học trường Chasseloup Laubat, nghỉ hè mới về thăm gia đình. Lúc đó, anh rất mê đọc thơ và làm thơ. Anh đọc nhiều thơ Pháp, nhất là Baudelaire (6) và các tác giả thuộc trường phái đặc trưng như Mallarmé (7), Valéry (8). Lại thấy anh đọc cả Breton (9), ông tổ trường phái siêu thực. Lúc đó, anh Trí làm thơ thì chủ yếu là thơ luật Đường xướng họa với anh Nhơn (10), thỉnh thoảng tôi cũng tham gia cùng hai anh.
Đề tựa tập Thơ Hàn Mạc Tử (Sở Văn hóa – Thông tin Nghĩa Bình, 1987), Chế Lan Viên còn nhớ: “Tử thường đọc Baudelaire: Sois sage ô ma douleur et tiens – toi plus tranquille! (Hãy ngoan hỡi em đau thương và em đứng yên nào!)”. Tuy nhiên, trong một bức thư gửi Hoàng Trọng Miên vào tháng 6-1939, Hàn bộc bạch: “Miên có hỏi Trí về quan niệm thơ. Đối với Trí quan niệm rất khác thường, không giống Baudelaire lắm.”
Về thơ phú thuở ấy, thầy ký đạc điền tuổi đôi mươi được ông anh cả Mộng Châu – “một nhà thơ Đường luật sành nghề” theo đánh giá của Quách Tấn – tiếp tục chỉ bày những “kỹ năng kỹ xảo” cầu kỳ cổ điển. Bài thất ngôn bát cú Cửa sổ đêm khuya của Hàn, về sau đưa vào Lệ Thanh thi tập, được nhiều người biết vì lối chơi tổ hợp “thuận nghịch độc” công phu. Bài này có thể đọc 4 cách: đọc xuôi; đọc ngược; bỏ 2 chữ sau rồi đọc ngược; bỏ 2 chữ trước rồi đọc xuôi. Cũng lối chơi độc đáo đó, Hàn thuở ấy còn có bài Đi thuyền viết theo kiểu “thủ vĩ ngâm” song chưa được phổ biến mấy. Vậy dựa theo ký ức của ông Nguyễn Bá Tín, tôi xin chép ra đây:
Bèo trôi nước dợn sóng mênh mông,
Cỏ mọc bờ xa bóng liễu trông.
Chèo vững thiếp qua vời khổ hải,
Giữ bền chàng đến vận trung không.
Theo lần nguyệt xé mây mù mịt,
Họa đáp thông reo trống não nùng.
Neo thả biết đâu nơi định trước,
Bèo trôi nước dợn sóng mênh mông.
Xem qua cách xử lý chữ nghĩa như trên, chắc bạn đọc hoàn toàn nhất trí với ý kiến Hoài Thanh – Hoài Chân nêu trong sách Thi nhân Việt Nam (NXB Hoa Tiên tái bản, Sài Gòn, 1967, trang 205) rằng: “Cái khuôn khổ bó buộc của luật Đường có lẽ không tiện cho sự nảy nở một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng như nguồn thơ Hàn Mạc Tử.” Rất may, đúng niên điểm 1932 đó, “cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy” và nhanh chóng “bành trướng mãnh liệt” với tên gọi là Thơ Mới. Lẽ tất nhiên, Hàn cùng bạn bè mình nồng nhiệt hưởng ứng “dòng thơ mạnh nhất trong những dòng thơ đi xuyên qua thời đại”. Không những thế, rồi đây Hàn còn khơi mở một chi lưu của dòng thơ kia với nhãn hiệu đầy ấn tượng: Trường thơ Loạn.
Bạn bè của thầy ký đạc điền ở Quy Nhơn thuở bấy giờ gồm những ai? Đồng trang lứa thì có Hoàng Tùng Ngâm, Lê Đình Ngân, Bửu Đáo. Ngoài ra, chàng còn giao du với một số trí thức yêu chuộng văn chương như nhà giáo Trần Cảnh Hảo, thầu khoán Bùi Xuân Lang.
Thầy giáo Trần Cảnh Hảo dạy văn – sử – địa ở Collège de Quinhon (11), cùng trường với cử nhân Mai Xuân Viên phụ trách môn Hán văn. Hai ông nằm trong ban giám khảo cuộc thi thơ năm 1933 được tổ chức tại phố biển này. Thầy Hảo đề nghị bổ sung một thành viên vào ban giám khảo: thầy ký Trí. Thấy Nguyễn Trọng Trí trẻ quá, thầy cử Viên lấy làm ngạc nhiên. Thầy Hảo liền giới thiệu chàng chính là Phong Trần từng được cụ Phan Bội Châu ca ngợi thi tài, thì ai nấy đều khâm phục. Ban tổ chức quyết định chọn một bài của chàng để ra đề: bài Đàn nguyệt. Nguyên tác:
Hỏi chơ mấy tuổi? Đáp mười lăm,
Non nước từng phen nổi tiếng tăm.
Bạc mạng đàn chơi đau nửa kiếp,
Đồng tâm tơ buộc chặt quanh năm.
Chường mình trước án trông đầy đặn,
Nép mặt trong hoa nói thỉ thầm.
Mười khúc đoạn trường say chửa tỉnh,
Thuyền ai thấp thỏm muốn ôm cầm!
Gần trăm người đủ độ tuổi, cựu học lẫn tân học, từ nhiều nơi về ứng thí. Kết quả: giải nhất trao cho bài họa của Tạ Linh Nha, người Quảng Ngãi. Quanh bài thơ thất ngôn bát cú Đàn nguyệt của Hàn, ông Nguyễn Bá Tín cung cấp một số thông tin:
– Trong nhà, tôi biết chơi đàn tranh với đàn nguyệt, chứ anh Trí hoàn toàn chẳng biết đàn địch chi cả. Nhưng anh mê nhạc lắm. Bài vịnh cây đàn nguyệt, ký bút hiệu Lệ Thanh, anh viết tặng “mệ” Dung – một nữ ca sĩ kiêm cầm thủ dòng dõi hoàng tộc. Bài thơ thật hay, nghe nói cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu rất thích.
Thời gian ấy, Hàn bắt đầu quen Quách Tấn qua thư. Tác giả Mùa cổ điển thuật lại qua hồi ký Đôi nét về Hàn Mạc Tử: “Mùa xuân 1933, nhân được nghỉ phép, Tử đi cùng gia đình bà Bùi Xuân Lang lên Đà Lạt thăm tôi. Vui mừng khôn xiết tả, tôi xin nghỉ mấy hôm đưa Tử đi xem thắng cảnh. Trước hết đi xem các cảnh gần. Cảnh nào cũng làm cho Tử trìu mến. Đến Cam Ly, Tử nhất định ở lại suốt ngày.”
Viếng phố núi, Hàn say mê ngắm hồ Xuân Hương, hồ Than Thở. Bài thơ Đà Lạt trăng mờ rất nổi tiếng của Hàn, cũng theo Quách Tấn thì “tuy mãi về sau Tử mới làm song nguồn hứng đã khơi từ những ngày đến Đà Lạt.”
Hàn Mạc Tử đưa bài thơ này vào tập Thơ điên còn gọi Đau thương (12).. Gồm 4 khổ, Đà Lạt trăng mờ đã được nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc (13).
Một người bạn đồng lứa với Hàn vừa nhắc ở đoạn trên là Hoàng Tùng Ngâm. Nhân vật ấy bấy giờ còn là bạn đồng nghiệp của Hàn vì làm chung bộ phận bảo tồn điền trạch. Thầy ký Ngâm lại là cháu ruột của tham tá Hoàng Phùng – giám đốc Sở Đạc điền Quy Nhơn. Ngày ngày, sau giờ làm việc, Hoàng Tùng Ngâm về trú ngụ cạnh nhà người bác. Hàn thường ghé thăm Ngâm và… sững sờ khi trông thấy tư thất của giám đốc có một trang “quốc sắc thiên hương” thấp thoáng vào ra. Hỏi, thì biết đó là ái nữ của “sếp”. Họ tên nàng là Hoàng Thị Kim Cúc. Thầm yêu trộm nhớ nàng, Hàn cảm tác loạt thơ tứ tuyệt Hoa cúc, Hồn cúc, Trồng hoa cúc, sau này còn thêm Sao, vàng sao – bấy nay lưu hành dưới nhan đề không đúng bản gốc là Đừng cho lòng bay xa – và Ở đây thôn Vỹ Dạ – bấy nay lưu hành dưới nhan đề không đúng bản gốc là Đây thôn Vỹ Dạ. Mối tình này, mãi tới nay, đối với nhiều bạn đọc vẫn là điều… bí mật! (14)
Một người bạn khác từng sống gần gũi Hàn Mạc Tử giai đoạn 1936 – 1940 là Hoàng Diệp. Thuở Hoàng Diệp còn sống ở đường Chi Lăng, thành phố Huế, tôi đã gặp ông và nghe ông nói:
– Nhiều tình tiết liên quan Hàn Mạc Tử, thiên hạ viết thiếu chính xác. Tỉ như niên điểm Hàn thôi việc Sở Đạc điền Quy Nhơn để vào Sài Gòn làm báo. Không ít tài liệu cho rằng năm 1934. Theo tôi, có lẽ Quách Tấn nhớ đúng hơn: mùa thu 1935.
Tôi thắc mắc:
– Ông Nguyễn Bá Tín, em ruột của Hàn, bảo rằng lương bổng anh mình nhận ở Sở Đạc điền Quy Nhơn quá thấp so với đồng sự. Mỗi tháng chỉ được 6 – 12 đồng. Đó là một trong những lý do khiến Hàn tìm “miền đất hứa”, phải không ạ?
Vuốt chòm râu bạc phơ, Hoàng Diệp cười:
– Vấn đề tài chính có khả năng là một lý do. Nhưng với người nghệ sĩ, đó chẳng phải nguyên nhân chính. Cốt yếu nhất, chắc chắn là chuyện tâm hồn, chuyện tính cách. Một cá tính sáng tạo mãnh liệt như Hàn đời nào chịu đựng nổi nếp sống công chức đều đều, tẻ nhạt? Ôi, mà công chức đàng hoàng, hậu hĩnh gì cho cam. Đằng này lại là công chức công nhật. Một thầy ký quèn! Vậy thì Hàn vào Sài Gòn, theo nghề báo chí là rất thích hợp.
____________
(1) Trích hồi ký Hàn Mạc Tử trong riêng tư, sđd, trang 31.
(2) Cercle d’Etudes de Quinhon, nay là Công ty TNHH một thành viên In Bình Định, địa chỉ 144 đường Tăng Bạt Hổ, Quy Nhơn.
(3) Trại phung Quy Hoà cách trung tâm thành phố Quy Nhơn 5km về phía nam. Mời quý bạn đọc tham khảo bài Quy Hoà: thung lũng tình thương của Phanxipăng đăng trên tạp chí Tài Hoa Trẻ 144 (31-1-2001) và 145 (7-2-2001), Tây Ninh Nguyệt San 63 (3-2001), rồi đưa vào phần phụ lục sách này.
(4) Pharisiêu, tiếng Do Thái, nguyên nghĩa những người tách biệt, thường được dịch là kẻ giả hình.
(5) Trích hồi ký Hàn Mạc Tử trong riêng tư, sđd, trang 26.
(6) Charles Pierre Baudelaire (1821 – 1867) sáng tác tập thơ Les Fleurs du Mal đã được Việt dịch bởi Vũ Đình Liên là Những bông hoa ác (NXB Văn Học, Hà Nội, 1995) và Lê Trọng Bổng là Hoa của nỗi đau (NXB Thế Giới, Hà Nội, 1999).
(7) Stéphane Mallarmé (1842 – 1898).
(8) Ambroise Paul Toussaint Jules Valéry (1871 – 1945)
(9) André Breton (1896 – 1966).
(10) Mộng Châu Nguyễn Bá Nhân (1905 – 1936). Nhân biến âm thành Nhơn.
(11) Trường Quốc Học ở Quy Nhơn tức Collège de Quinhon khởi thuỷ gồm cả tiểu và trung học, tên tiếng Việt hồi ấy là Cao đẳng tiểu học Quy Nhơn. Quý bạn đọc xem thêm cước chú (3) nơi chương trước.
(12) Thi tập này gồm 46 bài thơ, chẳng thể xuất bản thành sách lúc Hàn Mạc Tử còn sống. Bởi thấy thi tập này bấy lâu nay bị ấn hành với nhiều nhầm lẫn đáng tiếc, thậm chí lời đề tặng cũng bị tuỳ tiện sửa chữa, nên Trần Thanh Địch và Nguyễn Bá Tín phối hợp ấn hành Thơ điên tức Đau thương sát hợp nguyên tác (NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 1995).
(13) Bài thơ Đà Lạt trăng mờ của Hàn Mạc Tử đã được phổ thành ca khúc bởi Phạm Duy, Hải Linh, Hồ Hoàng Hạ, Trương Thìn, Walther Giger, v.v.
(14) Mời quý bạn đọc tham khảo các chương sau: Sự thật về mối tình Hàn Mạc Tử – Hoàng Thị Kim Cúc, “Ở đây thôn Vỹ Dạ” – nhan đề nguyên tác & một số lời bình.
(Còn nữa)
Mời quý bà con thưởng thức ca khúc Đà Lạt trăng mờ, thơ của Hàn Mạc Tử, phổ nhạc bởi:
- Hải Linh, do ca đoàn Hồn Nước trình bày
- Phạm Duy, do ca sĩ Tuấn Ngọc thể hiện
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=vjKZBnzFj2