Đọc văn bản sau: NHỮNG BÓNG NGƯỜI TRÊN SÂN GA (Trích – Nguyễn Bính) Những cuộc chia lìa khởi tự đây, Cây đàn sum họp đứt từng dây. Những đời phiêu bạt, thân đơn chiếc, Lần lượt theo nhau suốt tối ngày… […] Có lần tôi thấy một bà già, Đưa tiễn con đi trấn ải xa. Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng, Lưng còng đổ bóng xuống sân ga. Có lần tôi thấy một người đi, Chẳng biết vì đâu, nghĩ ngợi gì! Chân bước hững hờ theo bóng lẻ, Một mình làm cả cuộc phân ly. Những chiếc khăn mầu thổn thức bay, Những bàn tay vẫy những bàn tay, Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt, Buồn ở đâu hơn ở chốn này? Tôi đã từng chờ những chuyến xe, Đã từng đưa đón kẻ đi về. Sao nhà ga ấy, sân ga ấy, Chỉ để cho lòng dấu biệt li? (Nguyễn Bính – Thơ và đời, NXB Văn học, 2003, tr.38-39) a. Xác định hình tượng nhân vật trữ tình trong đoạn thơ. b. Chỉ ra những đối tượng được miêu tả trong cảnh chia ly ở đoạn thơ trên. c. Nhận xét cách dùng từ “một” của tác giả trong những câu thơ sau: “Có lần tôi thấy một người yêu, Tiễn một người yêu một buổi chiều” d. Không gian sân ga trong bài thơ được miêu tả như một không gian chồng chất nhiều nỗi buồn. Theo em, ở không gian sân ga có phải chỉ có duy nhất cảm xúc gắn với nỗi buồn không? Không gian sân ga còn gợi lên trong em những suy tư gì khác? Trình bày suy nghĩ bằng một đoạn văn ngắn từ 5-8 câu.

Bài 1 :

Đọc đoạn trích dưới đây:

Trên gác xép nhà trưởng bản Hà Văn Nó có chiếc tù và không biết đã từ đời nào sót lại. Chiếc tù và này bằng sừng trâu, khảm bạc, rạn nứt, mạng nhện chăng đầy, tò vò làm tổ ở trong. Không ai chú ý đến nó. Nó nằm đấy, lăn lóc, vất vưởng. Năm ấy, bỗng dưng trong rừng Hua Tát xuất hiện một loại sâu đen kỳ lạ. Chúng bé như những cái tăm, bám đầy chi chít trên những cành lá. Đi vào rừng hay đi lên nương, cứ nghe tiếng sâu bật mình lách tách, tiếng rào rào nghiến lá của chúng mà rợn cả người. Không có thứ lá cây nào mà loài sâu ấy lại không ăn được. Từ lá lúa, lá tre, cả lá của những cây song, cây mây đầy gai cũng bị chúng nhai ngấu nghiến.

[ … ] Trưởng bản Hà Văn Nó sai người giết trâu, giết lợn để xin trời đất quỷ thần phù hộ. Thầy mo bảo:

– Cái xương ông tổ họ Hà đang rữa, biến thành sâu bọ, phải lôi cái xương ra ánh mặt trời mà rửa mới hết được sâu.

Trưởng bản giật mình. Họ Hà ở đây có tục thiêu người khi chết. Sau khi thiêu xong, xương cốt được cho vào cái tiểu sành mang đi cất giấu. Ở trong dòng họ chỉ có một người đàn ông duy nhất biết được nơi cất giấu này. Trước khi chết, người ấy chọn ra một người trong họ để kế tục mình. Có lời nguyền rằng nếu thù ghét nhau, kẻ địch chỉ cần tìm được xương ấy mang tán trộn vào thuốc súng bắn đi là cả dòng họ tuyệt diệt. Họ Hà không ít kẻ thù. Bây giờ nếu mang ra rửa, làm lộ nơi giấu, khác nào tạo cho kẻ thù cơ hội tốt. Trưởng bản nghĩ ngợi. Ông biết kẻ thù đang rình rập ông từng bước, nhưng chẳng lẽ cứ để nạn sâu phá hoại quê hương?

Một đêm cuối tháng, trưởng bản thức dậy rồi gọi con trai là Hà Văn Mao theo mình.[ … ]

Trưởng bản mở nắp tiểu sành, bày xương ra đất dùng rượu rửa. Xương cốt còn nguyên không hề mủn nát như lời thầy mo nói. Ở giữa đám xương có một sợi dây bằng bạc cực kỳ tinh xảo.

[ … ] Hôm dọn đồ đạc, Mao thấy cái tù và ở trên gác xép. Trên tù và có một lỗ nhỏ buộc dây. Chàng sực nhớ ra sợi dây bằng bạc lấy trong đám xương cụ tổ. Chàng bèn lấy sợi dây đeo vào tù và. Chiếc tù và cũ bỗng dưng trông đẹp hẳn lên. Mao cầm tù và rúc thử một hồi. Thật kỳ lạ! Khi tiếng tù và vừa mới cất, những con sâu đen trên cây tự dưng quằn quại rồi rơi xuống đất.

Mao ngạc nhiên, chàng cầm tù và rúc thử vài lần. Những con sâu đen rụng xuống như mưa. Chàng sung sướng, vội vã sai ngay mọi người dừng việc dọn nhà.

Cả bản reo hò theo Mao lên rừng. Sáng ngày hôm ấy, chiếc tù và không ngớt rúc lên âm thanh kỳ lạ của nó. Sâu đen rơi xuống rào rào, người ta chỉ cần vun lại giết đi. Nạn sâu phá hoại chỉ trong một ngày đã bị diệt sạch. Diệt xong nạn sâu, dân bản Hua Tát mở hội ăn mừng. Chiếc tù và cũ được đặt trang trọng trên ngai thờ.

(Nguyễn Huy Thiệp, Chiếc tù và bị bỏ quên, In trong Những ngọn gió Hua Tát, NXB Trẻ, 04-2017)