Lược sử Giáo xứ Dư Ba
Chúng tôi tiếp tục lên đường. Lần này chúng tôi đi sang bên kia sông Hồng. Từ Hà Nội, theo đường cao tốc Láng-Hoà Lạc chưa đầy 1 tiếng xe đã đến khu vực giáo xứ Sơn Lộc, Sơn Tây. Đấy là nhà thờ chính toà của Giáo Phận Hưng Hoá, nằm dưới bóng những hàng cây xanh lọt giữa khu quân đội và khu đô thị mới, giáo dân tại chỗ chỉ còn khoảng hơn chục người.
Theo đường 32 chúng tôi tiếp tục ngược theo hữu ngạn sông Hồng. Chúng tôi đi qua Đường Lâm, ngôi làng cổ số một nước mình- nơi có Đình Mông Phụ, có đền thờ Phùng Hưng, đền thờ Ngô Quyền, cũng là nơi có họ đạo Mông Phụ, quê hương của Đức cha Phan Thế Hinh, Cố Giám mục Giáo phận Hưng Hoá, nhà thờ nằm ngay gần cổng làng, bên trái con đường từ Sơn Tây đi Trung Hà.
Chúng tôi cũng đi qua giáo họ Quang Húc nằm bên bờ sông Hồng, cách Sơn Tây khoảng gần 10 km, thuộc địa phận huyện Ba Vì. Đấy là nơi Đức cha Nguyễn Phụng Hiểu, cố Giám mục Giáo phận Hưng Hoá và sau đó là cha Trần Hữu Thanh DCCT chúng tôi đã bị quản chế hồi nửa đầu thập niên 1980 về trước. Xóm đạo Quang Húc nay không còn xác xơ như cách đây mươi năm mà trông trù phú lắm. Giáo dân ở đây một số vẫn thường hay xuống Thái Hà Ấp hành hương kính Đức Mẹ HCG và thăm cha già Trần Hữu Thanh.
Chưa đấy nửa tiếng, chúng tôi đã đến khu vực Trung Hà, nơi sông Đà gặp sông Hồng. Khác hẳn mùa đông, nước phẳng lặng xanh trong đến nhìn thấy được đáy sông, lúc này đang giữa mùa lũ cho nên nước từ thượng nguồn đổ xuống mênh mông. Vì thế mà có số báo xuân nào đó đã đăng câu chúc vui: “Tiền vô như nước sống Đà/ Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin”.
Qua cầu Trung Hà bắc ngang sông Đà, nối Hà Tây với Phú Thọ, chúng tôi đến khu vực địa danh mà thời Nhà Nguyễn đặt làm thủ phủ của Trấn Hưng Hoá, cũng là nơi đặt TGM mang tên Hưng Hoá. Cuối năm 1946 nơi đây trở thành vùng căn cứ kháng chiến, năm 1947 TGM và nhà thờ bị bom đạn tan hoang, TGM được sơ tán về Sơn Tây và ở đó đến nay. Thị trấn Hưng Hoá cũng biến mất trên bản đồ. Từ mấy năm nay, khi huyện Tam Nông được tách ra từ huyện Tam Thanh, thị trấn Hưng Hoá mới được tái lập và trở thành huyện lỵ. Ở đây hiện nay vẫn còn khoảng hơn 300 giáo dân, nhưng đất cũ của TGM và nhà thờ đã bị chiếm dụng. Nghe nói Đức Giám Mục mới thương lượng được với chính quyền địa phương được mấy nghìn mét vuông đất để làm nhà thờ mới cho giáo xứ Hưng Hoá.
***
Theo đường 32 C xe tiếp tục đi khoảng hơn nửa giờ nữa, chúng tôi đã đến vùng Tây Bắc Phú Thọ là vùng Yên Tập, Tạ Xá, Dư Ba, vùng Công giáo cổ kính và truyền thống số một của Hưng Hoá, nằm bên bờ phải sông Hồng, nơi Tin mừng đã được truyền giảng từ thế kỷ XVII.
Hôm nay 16.07.2005, chúng tôi đến xứ Yên Tập dự lễ an táng ông cố của cha Lê Ngọc Nghi, linh mục mới lãnh sứ vụ hồi tháng 8 năm 2005, hiện đang làm phó xứ Dư Ba cho cha Nguyễn Gia Nhang là cha nghĩa phụ của thầy sáu Nguyễn Nam Phong DCCT chúng tôi. Ông cố của cha Lê Ngọc Nghi bị bệnh suy tim, qua đời ở tuổi 69. Như thế cũng đã là thọ hơn cha thọ nhất giáo phận Hưng Hoá hiện nay là cha Nguyễn Gia Nhang: 66 tuổi.
Yên Tập là giáo xứ cổ kính nhất vùng này. Hiện tại cha Nguyễn Văn Đông làm chính xứ, nhưng ngài không ở tại đây mà ở bên nhà thờ Ro Lục cách vài km. Hiện tại Yên Tập có khoảng hơn 4000 nhân danh. Dân nghèo lắm. Mà có lẽ nghèo từ bao nhiêu đời nay rồi. Dáng người khắc khổ hằn lên trên từng khuôn mặt xương xẩu. Nghèo từ nhà dân đến nhà xứ. Nhà xứ hiện nay cũng vẫn chỉ là ngôi nhà lợp lá nằm khuất ở một bên nhà thờ.
Nghèo vật chất, nhưng tinh thần không nghèo. Lòng đạo của người dân Yên Tập đã khiến các thừa sai từ thế kỷ XVIII phải ca ngợi. Từ cung cách ăn mặc, ứng xử cho đến những lời kinh, tiếng hát và cung giọng đọc kinh đều như cho thấy cả một truyền thống sống đạo sốt sắng của mấy trăm năm lịch sử, mà dường như chưa bị những tác động bên ngoài làm biến chuyển bao nhiêu. Cái nghèo và cái giầu ấy quyện vào nhau khiến cho tôi thấy người dân nơi đây có dung nhan, vóc dáng như các bức tượng La Hán chùa Tây Phương ở Thạch Thất.
Một trong những đức tính quý báu của người dân ở đây là lòng yêu mến người đi tu một cách đặc biệt. Chính vì thế, ơn gọi tu trì của Yên Tập khá nhiều. Tôi được biết trong số 6 tân linh mục chịu chức tháng 8 năm 2005, có 2 vị người Yên Tập là cha Lê Ngọc Nghi, cha Phan Kim Huấn. Tôi cũng biết giáo xứ có một thầy đang học lớp bổ túc ở Nhà Trang và một thầy khác đang học ở Chủng viện Hà Nội. Còn có cả mấy chục chị em đang tu Dòng MTG Hưng Hoá và một số dòng khác.
Chúng tôi đến nơi thì đã thấy nhà thờ đã đầy người. Tôi rất cảm động khi thấy đông đảo quý cha hiện diện. Giáo phận Hưng Hoá chỉ có vỏn vẹn 30 cha, trong đó có 2 đang đi du học ở Pháp, số còn lại ở rải rác trên nhiều tỉnh khác nhau, cách rất xa nhau. Vậy mà chúng tôi đếm đựơc đến 20 chục cha đồng tế cầu nguyện cho ông cố và chia sẻ với gia đình cha Lê Ngọc Nghi. Đấy là một điều không những như cha Lê Ngọc Nghi nói trong lời cám ơn-là một sự khích lệ, sự nâng đỡ rất lớn cho thân mẫu của ngài, cho ngài và gia đình ngài, mà chúng tôi còn thấy đó là lòng yêu mến lớn lao và sự hiệp thông sống động mà các linh mục trong giáo phận dành cho nhau.
Có điều tôi thấy quý cha đồng tế trông khắc khổ quá. Do các ngài sinh ra, lớn lên và phục vụ ở vùng đất nghèo khó quá chăng? Do vất vả quá chăng? Mỗi khuôn mặt khắc khổ kia là bao nhiêu nỗi lo toan, là bao nhiêu thử thách gian nan đã qua và sẽ tới? Các ngài còn có mặt trên đường phục vụ được bao năm nưa? Tôi không thể không cảm thấy chạnh lòng khi biết các linh mục Hưng Hoá thường chết sớm vì lao lực và bệnh tật. Cho nên cha Nguyễn Gia Nhang, dù năm nay mới 66 tuổi, nhưng đã là linh mục niên trưởng của Giáo phận từ mấy năm nay rồi: Tôi không biết cha Nguyễn Gia Nhang còn giữ đựơc cái “chức” niên trưởng được đến bao giờ. Hiện tại ngài trông cũng đã hom hem lắm. Hỏi ngài nặng bao nhiêu cân, ngài nói khoảng 4 chục.
***
Sau lễ tang, chúng tôi sang Tạ Xá thăm ngôi nhà thờ mới, nơi cha Lưu Ngọc Lâm, cha phó của cha Nguyễn Văn Đông, đang trực tiếp phụ trách. Cha Lưu Ngọc Lâm, cũng quê và cũng là anh em linh tông với thầy sáu Nguyễn Nam Phong của DCCT chúng tôi, vì cùng được cha Nguyễn Gia Nhang đỡ đầu. Tôi nhớ hè năm 1991 đã có lần chúng tôi đi xe Simson trên lối mòn bờ đê sông Hồng, qua phà Trung Hà, về Việt Trì rồi đi Phú Thọ, sau đó trở lại Sơn Tây.
Hồi hai năm trước, chúng tôi có ghé thăm Tạ Xá, khi cha Lưu Ngọc Lâm mới chịu chức và về đây. Khi ấy nhà thờ mới đang đào chân móng, nhà xứ vẫn như hôm nay mái tranh vách ván, những người dân tôi gặp trên đường vào khi hỏi lối tôi thường thấy họ còn ăn trầu và cách xưng hô rất cổ. Cảnh vật nghèo nhàn với những nhà tranh nho nhỏ, với những con ngõ tối om vì bóng tre bóng cọ và các thứ cây khác, khiến tôi, một người ở thành phố lâu ngày, có cảm giác mình đang đi vào chốn tận cùng thế giới.
Hôm nay, con đường quốc lộ 32 C làm xong, đường nông thôn được nâng cấp, giao thông phát triển, người dân biết toả đi các nơi làm ăn, kinh tế có khá hơn chút ít, khiến bộ mặt xóm làng thay đổi. Nhà ngói đã nhiều lên. Nhà tranh ít đi. Nhà lầu xuất hiện. Người dân trông linh lợi hơn trước nhiều. Đường xe hơi dẫn vào đến tận nhà xứ. Ngôi nhà thờ khang trang, mái ngói đỏ tươi, ngọn tháp cao vút vươn lên giữa vùng đồi núi trung du. Không sánh được với các ngôi nhà thờ mới xây dựng một hai năm nay ở Sài Gòn, nhưng kiến trúc trong ngoài cũng khá đẹp và phù hợp với kiến trúc thành đường. Tôi hỏi kinh phí hết bao nhiêu. Cha Lưu Ngọc Lâm nói hết tỷ rưỡi. Không kể 2 vạn công lao động do giáo dân đóng góp.
Bấy nhiêu tiền cha Lâm nói, tôi nghĩ ở Sài Gòn may lắm mới đủ làm đựơc cái chân móng của ngôi nhà thờ bé thôi. Nhưng ở đây thì làm được cái nhà thờ lớn như vậy. Thế mới biết là giá xây dựng ở nông thôn Miền Bắc rẻ thế nào. Dầu sao tôi vẫn “phục sát đất” là cha Nguyễn Văn Đông và cha Lưu Ngọc Lâm giỏi xoay sở. Làm sao giữa vùng dân nghèo thế này mà các ngài kiếm ra tiền để xây dựng nhà thờ? Hiện nay cha Lưu Ngọc Lâm đang cho xây dựng ngôi nhà ở và nhà giáo lý dài 7 gian. Đã xong phần cơ bản. Ngài nói phải làm thôi, kẻo không có chỗ học giáo lý, Đức cha có về cũng không có chỗ ở, khách có đến cũng không có chỗ đi vệ sinh!
Chiều thứ ba 19.07.2005 cha Trịnh Ngọc Hiên, Bề trên DCCT Hà Nội, cha Nguyễn Đăng Xuyên, chính xứ Thạch Bích và anh em chúng tôi đến giáo xứ Dư Ba. Cũng gọi Du Bơ. Cha xứ Nguyễn Gia Nhang giải thích Dư Ba có nghĩa là thừa sóng. Nó còn có tên Nôm mà nhiều người biết đến hơn đó là Bơ. Làng Bơ. Chẳng hiểu tên nào có trước. Bơ hay Dư Ba? Du Bơ hay Dư Ba? Phải chăng Bơ là âm đọc trại của Ba trong chữ Dư Ba và Du Bơ là đọc trại của Dư Ba. Tôi chẳng có thời gian tìm hiểu. Nhưng người dân vùng Tây Bắc Phú Thọ này cứ nói đến làng Bơ, Dư Ba hay Du Bơ thì hầu như ai cũng biết. Người ta còn biết ở đấy truyền tụng nhau câu nói: Thứ nhất thiên đàng/Thứ nhì làng Bơ. Cũng giống như người dân ở Ba Làng Thanh Hoá hay tự hào với câu:
“Thứ nhất Toà Thánh Pha Pha
Thứ hai Cửa Bạng, thứ ba Thần Phù”.
Chẳng hiểu nhất nhì các cụ xưa muốn nói ở đây là gì? Là lòng đạo chăng? Là cảnh đẹp và đất thiêng chăng?
Dư Ba hiện có 22 họ đạo, nằm trên hai huyện Cẩm Khê và Hạ Hoà, với khoảng 15 nghìn giáo dân, trong đó có giáo họ chỉ còn 3 hoặc 5 giáo dân như Thuỷ Trầm, Cấp Dẫn, Đồng Kê. Lại có họ đạo đông đến hơn 5 nghìn giáo dân như Ngô Xá.
Nhà thờ Dư Ba được xây dựng theo kiểu Roman cách đây 104 năm, nằm trên đỉnh đồi. Thấp, bé nhưng nét trông cổ kính và kiểu dáng cũng xinh. Xung quanh là vườn cây. Trồng từ hoa cho đến sắn mà Miền Nam gọi là củ mì. Lưng chừng sườn đồi, song song với nhà thờ là nhà giáo lý. Đấy vốn là ngôi nhà thờ cũ, đựơc xây dựng trước ngôi nhà xây năm 1901, mái còn thấp hơn nứa, thấp đến nỗi đưa tay với được mái nhà; hàng cột mái hiên nay nhẵn bóng vì bàn tay của bao nhiêu thế hệ đã đưa qua. Dưới cùng là ngôi nhà xứ hai tầng mới xây được mươi năm nay. Xung quanh từng ngôi nhà và toàn thể khu nhà là vườn cây các loại. Phong cảnh hữu tình. Đứng từ tầng hai của nhà xứ nhìn ra vườn cây, cánh đồng và dòng sông Thao ở phía trước thật là thú vị. Cha Nguyễn Đăng Xuyên cứ luôn miệng khen: “Đẹp! Đẹp quá nhỉ! Thế này thì Thạch Bích không bằng rồi!”. Cha xứ Thạch Bích, Hà Nội cũng là người ít khi dám bỏ chuyện mục vụ giáo xứ để đi đây đó, cho nên tôi được dịp nói vui: “Cố thấy đấy:
Ở nhà nhất mẹ nhì con
Ra đường có kẻ còn giòn hơn ta”.
Nhân có cha xứ Dư Ba và cha BT-Chính xứ Thái Hà ở đây, con thấy bây giờ ca dao nhà đạo ở đây phải đọc là:
“Thứ nhất là xứ Dư Ba
Thứ hai Thạch Bích, thứ ba Thái Hà”.
Ba chị em chào các cha để ra về
Tôi hỏi đời sống của giáo dân nay có khá hơn chăng ? Cha Nguyễn Gia Nhang nói: Vẫn nghèo lắm. Đất ít. Mỗi người chưa được một sào ruộng ( 360 m2 ). Hơn nữa đất rất xấu. Trừ ra một ít đất ngoài bãi ven sông Hồng. Đất sỏi gừng. Có giống chuối ngon trồng ở bên ngoài đê thì sống, cho quả rất to và ăn rất ngon, nhưng đem trồng bên trong đê thì chết. Vì nghèo nên dân tứ tán làm ăn rất nhiều. Chủ yếu vào vùng Sài Gòn, Hố Nai, Xuân Lộc và xuống Hà Nội. Tại vùng Xuân Lộc, người Dư Ba đã ở với nhau thành xóm. Đói đầu gối phải bò. Người nào đi đựơc lập nghiệp được ở những nơi đấy là đi luôn. Cha xứ có ý hơi tiếc khi thấy vậy. Riêng tôi, tôi vẫn nghĩ rằng, có cái xa mà gần, có cái bỏ mà không bỏ, có cái thương mà lại rứt ruột ra đi: Giữa cảnh đất chất người đông, không có công ăn việc làm, người có can đảm đi khỏi quê hương ấy là yêu mến quê hương.
Chúng tôi thăm nhà thờ Tùng Khê, một họ đạo cổ kính của giáo xứ và cũng là họ đạo có ngôi nhà thờ cổ xưa, nằm lọt trong vùng đồi cách bờ sông Hồng về phía tây khoảng 4 km. Mới đầu, tôi nghĩ đó là ngôi nhà do các cha thừa sai dựng lên hồi còn cấm đạo dữ dội từ cuối thế kỷ XIX về trước và dùng làm nhà thờ tạm. Nhưng không! Cha xứ nói nó mới được dựng vào năm 1901 và nó tồn tại từ đó đến nay. Nhìn ngôi nhà thờ, nếu không có cây thánh giá nhỏ ở cuối và tháp chuông bên cạnh, tôi chỉ dám nói đó là cái chuồng bò. Nhưng chắc chắn cái chuồng bò ở vùng Mộc-Châu, nơi nuôi nhiều bò ở Miền Bắc, chúng tôi thấy còn khang trang hơn. Ở vùng Phú Thọ này tôi thấy nhiều xứ đạo còn có các ngôi nhà thờ họ lợp lá, nhưng tôi không thấy một ngôi nhà thờ nào tồi tàn đến vậy. Tôi không biết phải dùng lời gì để tả. Tôi mới thấy hiểu hơn mầu nhiệm Chúa nhập thể là như thế nào. “Thứ nhất thiên đàng-thứ nhì làng Bơ” là như thế sao?
Chúng tôi cũng đi thăm một số nhà dân. Nhìn cuộc sống, cách ăn mặc và ứng xử của người dân ở đây tôi thấy không còn biết phải nói gì hơn nữa. Tôi mới thấy cái bình thường của người sống ở Sài Gòn cũng là xa hoa, lãng phí so với ở đây. Khi đến với họ, tôi cảm thấy mình có tội khi trên mình đang mang trên mình bộ quần áo lành lặn, sạch sẽ và được giữ thẳng nếp. Người dân ở đây tôi không thể đoán được tuổi. Gặp một em tôi đoán chừng 11-12, cởi trần tóc vàng hoe, vàng tự nhiên chứ không phải do nhuộm kiểu Hàn Quốc, tôi hỏi em học lớp mấy, em nói em bỏ học 5 năm rồi. Tôi hỏi em bao nhiêu tuổi. Em nói 17.Tôi không tin vào tai mình nữa. Tôi đã chụp được hình em nhưng tôi thấy không đang tâm để đưa bức hình ấy lên bài viết này.
Buổi tối, 19 h 30 chúng tôi dâng thánh lễ đồng tế tại nhà thờ chính xứ. Ngày thường mà giáo dân cũng đông đảo quá sức. Dù đã có lễ sáng. Thiếu nhi, thanh niên, trung niên, phụ lão đủ cả. Mọi người ngồi ngáy ngắn trong khu vực của mình trong nhà thờ. Gần chật nhà thờ. Cũng thật thú vị khi thấy các ông đi nhà thờ còn mặc áo thước và các bà còn mặc áo chùng nâu. Những cái áo rất cổ kính mà có lẽ chỉ còn người có đạo hay các bà vãi ở một số vùng mặc mà thôi. Nhưng rõ là trông rất trang trọng, cung kính và đáng yêu. Phân biệt hẳn chuyện đi nhà thờ với chuyện đi làm, đi học, đi ăn, đi chơi.
Điều hấp dẫn chúng tôi nhất là cũng như một số xứ đạo khác ở vùng này, những tiếng hát lời kinh của người dân ở đây rất sốt sắng. Tôi thấy nhiều nhà thờ hát rất kỹ thuật, đàn rất đúng bài bản, nhưng nghe nó cứ tồng tộc và nhạt nhẽo làm sao ấy. Ngược lại, ở một số họ đạo nằm ở thượng lưu sông Đáy thuộc vùng Thạch Bích, Hà Tây và thường lưu sông Hồng thuộc vùng Phú Thọ, trong đó có Dư Ba, người ta hát nhiều khi không đúng giai điệu và nhịp phách, vẫn sốt sắng làm sao! Dư Ba này là một giáo xứ như vậy. Nghe giáo dân hát tôi phải gọi là rực lửa mới đúng. Rực lửa mến Chúa! Chuyện đọc kinh cũng vậy. Nhìn người ta đọc kinh, ngắm cái tư thế của họ, lắng nghe cái cung giọng của họ thả theo từng lời, từng nhịp lên xuống của các bài kinh, tôi có cảm tưởng họ là những người đã đạt đến trình độ chiêm niệm rất cao. Nói họ xuất thần tôi thấy cũng có cái gì đó còn chưa đủ. Nghe người ta đọc kinh, đọc nhiều lời kinh hay quá, nhiều cung giọng hayquá, tôi cảm thấy như mình đang đụng chạm đến một cái gì vô cùng gần gũi, quen thuộc mà lại vô cùng sâu xa, thiêng thánh, lạ lùng. Tôi có cảm giác như cả một quá khứ, một truyền thống của dân tộc cũng như của đức tin từ mấy trăm năm đang hiện về qua những lời kinh mà tôi tin rằng nay đã thành gia bảo.
Chứng kiến đời sống đạo của người dân Dư Ba và lối ứng xử giao tiếp của họ, tôi thoáng thấy cái gì đó thuộc về thiên đàng đang tỏ hiện trong đời sống của người dân ở đây. Tôi thấy họ dạy tôi đâu là cái đáng quý nhất trong cuộc đời. Mới đầu tôi thấy người dân ở đây nghèo khổ. Nhưng sau một ngày ở Dư Ba, chứng kiến đời sống đạo của họ, tôi không biết họ nghèo hay tôi nghèo, họ khốn hay tôi khổ. Điều tôi xác tín là họ đang sở hữu một kho tàng vô giá của đức tin, họ đã dám bán đi tất cả những gì mình có để mua lấy kho báu và viên ngọc quý là Nước Trời. Họ đã chọn lựa đúng và lựa chọn phần tốt nhất như Chúa muốn.

Trích: Ký sự THOÁNG HÀNH HƯƠNG GIÁO PHẬN ĐOÀI: YÊN TẬP – TẠ XÁ – DƯ BA
Thái Hà dcct (20.7.2005) http://cuuthe.com/zoldsite1/kysu/9989doai5.html