NỘI DUNG TÓM TẮT
Việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta” là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay vì một số lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, sở hữu và pháp luật về sở hữu rất ít được quan tâm nghiên cứu ở nước ta.
Sở hữu là vấn đề rất quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nền kinh tế của bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là đối với Việt Nam ta trong giai đoạn chuyển đổi hiện nay. Tuy nhiên, sự quan tâm của Nhà nước, giới khoa học kinh tế và luật học đối với vấn đề này là hoàn toàn chưa thoả đáng. Từ khi xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nay, chúng ta đã làm được nhiều việc, giải quyết được nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, xây dựng được nhiều đạo luật quan trọng để tạo môi trường pháp lý cho việc định hình và vận hành một cách trôi chảy nền kinh tế mới. Trong số các đạo luật quan trọng này, đáng lưu ý nhất là Luật doanh nghiệp (năm 1999, 2005), Luật doanh nghiệp nhà nước (năm 1995, 2003), Luật hợp tác xã (năm 1996, 2003), Luật thương mại (năm 1997, 2005), Luật các tổ chức tín dụng (năm 1997, 2004), Luật kinh doanh bảo hiểm (năm 2000), Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1993, 1998, 2001, 2003), Luật xây dựng (năm 2003), Luật phá sản (năm 1993, 2004), Luật cạnh tranh (năm 2004)… Tuy nhiên, về vấn đề sở hữu thì hầu như chưa có một sự nghiên cứu nào đáng kể ngoài một số quy định rất cô đọng, ngắn gọn trong Hiến pháp (năm 1992) và Bộ luật dân sự (năm 1995, 2005). Các quy định như vậy và các nghiên cứu về chúng chưa đánh giá được vị trí, vai trò và ý nghĩa của vấn đề sở hữu và pháp luật về sở hữu. Vì vậy, việc nghiên cứu nghiêm túc, đồng bộ, về vấn đề này là rất cần thiết ở nước ta hiện nay.
Thứ hai, cần phải nghiên cứu chế định sở hữu để tạo cơ sở lý luận cho việc giải quyết những vướng mắc, ách tắc liên quan đến sở hữu, quyền sở hữu do thực tiễn đặt ra, mà chưa có cơ sở khoa học để xử lý một cách thoả đáng. Ví dụ:
– Thế nào là chế độ sở hữu, hình thức sở hữu, loại hình sở hữu? Chưa làm rõ được căn cứ khoa học để phân biệt chúng với nhau;
– Có nên giữ khái niệm sở hữu toàn dân hay không bên cạnh khái niệm sở hữu nhà nước?
– Có còn khái niệm sở hữu tập thể hay không, hay đó chỉ là một dạng của sở hữu pháp nhân?
– Làm thế nào để doanh nghiệp nhà nước với tư cách là một pháp nhân có quyền chủ động hơn nữa trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được Nhà nước giao?
– Quyền của doanh nghiệp nhà nước đối với tài sản được Nhà nước giao được hiểu là quyền gì (quyền sở hữu, hay quyền quản lý nghiệp vụ, hay quyền vận hành kinh tế) và mối quan hệ giữa nó với quyền sở hữu của Nhà nước nên thiết lập lại như thế nào cho phù hợp với cơ chế kinh tế mới?
– Ngoài quyền sở hữu còn có những quyền tài sản nào được gọi là vật quyền?
– Bản chất của quyền sử dụng đất là gì, nó có phải là một quyền sở hữu hạn chế hay không? v.v..
Thứ ba, nghiên cứu pháp luật về hình thức sở hữu nhằm phục vụ đắc lực cho hoạt động xây dựng pháp luật của nước ta.
Từ sự phân tích ở trên cho thấy, việc nghiên cứu một cách cơ bản đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta” là rất cần thiết, góp phần giúp Đảng và Nhà nước trong việc thiết lập một cách hợp lý các hình thức sở hữu cơ bản ở Việt Nam, đặc biệt là trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và Bộ luật dân sự trong thời gian tới.
Việc nghiên cứu đề tài nhằm giải quyết ba mục tiêu cơ bản sau đây:
– Nghiên cứu để phân biệt rõ các khái niệm, thuật ngữ như: chế độ sở hữu, hình thức sở hữu, loại sở hữu.
– Tìm ra những nhược điểm trong chế độ pháp lý đối với từng loại hình thức sở hữu (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân và sở hữu chung) để có hướng và biện pháp khắc phục phù hợp.
– Trên cơ sở tìm ra những hạn chế, bất cập của pháp luật về sở hữu ở Việt Nam và trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm của các nước, đề tài này sẽ nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển, ổn định đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào quyền sở hữu tài sản ở phạm vi hẹp, chủ yếu là các tài sản hữu hình, ở dạng hiện vật. Ngoài ra, đề tài cũng chỉ nghiên cứu pháp luật liên quan đến các hình thức sở hữu chủ yếu, mà không đi sâu nghiên cứu pháp luật về tất cả các hình thức sở hữu và các dạng cụ thể của mỗi hình thức sở hữu, ví dụ: không nghiên cứu một cách cụ thể hai loại sở hữu chung là sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất, hoặc trong hình thức sở hữu nhà nước đề tài cũng chưa có điều kiện nghiên cứu đến sở hữu của cấp chính quyền địa phương.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỞ HỮU VÀ PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU
1. Bản chất, vai trò của sở hữu trong đời sống kinh tế – xã hội
1.1. Bản chất của sở hữu
Tuy được quan tâm, nghiên cứu bởi các ngành khoa học khác nhau (triết học, kinh tế học và luật học), nhưng cho đến nay, ở Việt Nam cũng như ở các nước, vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về sở hữu[1]. Tại nội dung này các tác giả nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin về nội dung lý luận về sở hữu. Đó là:
Thứ nhất, mỗi hình thức sở hữu đều có vai trò lịch sử nhất định. Không có hình thức sở hữu nào tồn tại vĩnh viễn. Mọi hình thức sở hữu đều có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong.
Thứ hai, quá trình thay thế lẫn nhau giữa các hình thức sở hữu là quá trình lịch sử tự nhiên, theo hướng: sở hữu công cộng của bộ lạc bị thay thế bởi sở hữu tư nhân chiếm hữu nô lệ; sở hữu tư nhân chiếm hữu nô lệ bị thay thế bởi sở hữu tư nhân phong kiến; sở hữu tư nhân phong kiến bị thay thế bởi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa; sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bị thay thế bởi sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa (sở hữu toàn dân).
Thứ ba, vai trò lịch sử của mỗi hình thức sở hữu là vấn đề có tính khách quan, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định. Do vậy, không thể tùy tiện xóa bỏ một hình thức sở hữu nhất định theo ý chí chủ quan của Nhà nước hoặc giai cấp cầm quyền. Muốn xóa bỏ hình thức sở hữu nào đó, thì vấn đề là phải làm sao phát triển được lực lượng sản xuất, để đến lúc trình độ của lực lượng sản xuất tự nó làm cho quan hệ sở hữu trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và từ đó đòi hỏi phải có hình thức sở hữu mới phù hợp hơn.
Thứ tư, vấn đề sở hữu có ảnh hưởng quan trọng đối với việc khẳng định vị trí của giai cấp thống trị trong xã hội. Giai cấp nào sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, giai cấp đó sẽ quyết định được vận mệnh của số đông người lao động. Như vậy, vấn đề sở hữu không đơn thuần là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề có ý nghĩa chính trị[2].
Ngoài ra, các tác giả còn nghiên cứu các quan điểm khác nhau về mặt học thuật. “Sở hữu” theo nghĩa Hán Việt được ghép từ 2 chữ “sở” (của mình) và “hữu” (có), vì thế sở hữu được giải thích là “cái mình có”[3]. Theo cách hiểu này, “sở hữu” đồng nhất với chính “tài sản” – đối tượng của sở hữu. Cách giải thích này không lô-gíc, khó có thể chấp nhận làm khái niệm khoa học.
Cũng có quan điểm cho rằng “sở hữu” là “việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động của xã hội loài người”[4]. Như vậy, sở hữu là hành vi tương tác của con người với những đối tượng nhất định (tài sản) vốn là một bộ phận của thế giới tự nhiên.
Dưới giác độ triết học và kinh tế học, khái niệm “sở hữu” thường bị đồng nhất với khái niệm “quan hệ sở hữu”. Cuốn Từ điển kinh tế do nhà xuất bản Sự thật ấn hành năm 1979 tại trang 381 có định nghĩa về sở hữu như sau: sở hữu là “quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải vật chất được tạo ra nhờ tư liệu sản xuất ấy”. Chia sẻ cách tiếp cận này, gần đây, một số học giả ở Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu về sở hữu[5] đã đưa ra định nghĩa về sở hữu như sau: “Sở hữu là quan hệ giữa con người với con người đối với việc chiếm hữu của cải và thông qua quan hệ ấy con người thực hiện thỏa mãn các nhu cầu của mình”.
Dưới giác độ pháp lý, thuật ngữ “sở hữu” thường được sử dụng đồng nhất với khái niệm “quyền sở hữu”[6]. Theo cách tiếp cận này, với các quốc gia thuộc hệ thống luật châu Âu lục địa, “quyền sở hữu” thường được hiểu là tập hợp nhóm quyền đối với tài sản, cụ thể đó là tập hợp nhóm 3 quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt[7]. Với các nước theo hệ thống luật án lệ (common law), định nghĩa về “quyền sở hữu” được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa về quyền sở hữu của luật gia William Blackstone – một luật gia nổi tiếng người Anh đưa ra từ cuối thế kỷ 18[8]. Theo định nghĩa này, “quyền sở hữu” (property) là “độc quyền chi phối tuyệt đối đối với một bộ phận của thế giới bên ngoài (một vật), và ngăn cản tất cả mọi người khác tiếp cận với vật ấy”[9]. Tuy khái niệm này mới hình dung tới quyền sở hữu đối với tài sản là vật hữu hình, nhưng yếu tố “độc quyền chi phối” đối với tài sản rõ ràng là bộ phận cấu thành nên nội dung quyền sở hữu.
Như vậy, theo cách quan niệm chung (dù là theo hệ thống common law hay hệ thống civil law) thì quyền sở hữu không phải là loại quyền không thể phân chia. Ngược lại, quyền sở hữu có thể chia thành những quyền năng thành phần (như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt, bao gồm quyền cho thuê, cho mượn, chuyển giao tài sản, quyền đòi lại tài sản v.v..). Chính vì thế, không phải không có lý khi coi quyền sở hữu là một nhóm các quyền của những chủ thể nhất định đối với tài sản[10] như cách quan niệm của một luật gia khá nổi tiếng người Mỹ từ năm 1913 – Wesley Hohfeld[11].
Ở đây các tác giả cũng lưu ý về sự khác biệt giữa thuật ngữ “quyền sở hữu” với “chủ quyền”. Chủ sở hữu chỉ có quyền sở hữu đối với tài sản chứ không thể có chủ quyền với tài sản. Chủ quyền là loại quyền năng chính trị đặc biệt mà chỉ Nhà nước mới có thể có được. Chính vì thế, tuy không phải là chủ sở hữu tài sản, nhưng do có chủ quyền, Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình thực thi quyền sở hữu của các chủ thể trong xã hội. Nhà nước có thể có những hành vi hạn chế quyền sở hữu của các chủ thể trong xã hội theo các trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
Trong bối cảnh sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế ngày càng lớn, quyền sở hữu của các thành viên trong xã hội ngày càng chịu nhiều ràng buộc từ phía Nhà nước, có luồng quan điểm cho rằng sở hữu cần được quan niệm không chỉ đơn thuần là một nhóm quyền mà phải bao gồm cả những nghĩa vụ đi kèm. Theo cách quan niệm ấy, sở hữu sẽ là một nhóm quyền và nghĩa vụ của một chủ thể đối với một tài sản[12].
Khi xây dựng Bộ luật dân sự năm 1995 của Việt Nam (và gần đây là Bộ luật dân sự năm 2005), các nhà làm luật dường như cũng đã chia sẻ cách tiếp cận này[13]. Các quy định về sở hữu trong Bộ luật không chỉ có các quy định về các quyền của chủ sở hữu mà còn chứa đựng cả các quy định về hạn chế quyền sở hữu (tức là những nghĩa vụ mà chủ sở hữu phải gánh chịu đi kèm với việc có quyền sở hữu).
Việc tồn tại quyền sở hữu chính là cơ sở pháp lý quan trọng để một chủ thể tiến hành các hành vi tương tác với tài sản mà các chủ thể khác trong xã hội phải tôn trọng do được pháp luật bảo hộ. Quyền sở hữu chính là quyền tiếp cận với tài sản và có các hành vi khai thác, sử dụng, phát huy công dụng và cả bảo vệ tài sản. So sánh giữa chủ sở hữu với các chủ thể không phải là chủ sở hữu trong xã hội, chúng ta có thể coi rằng “quyền sở hữu” là độc quyền chi phối, khai thác, quyết định số phận của tài sản. Chỉ có chủ sở hữu mới có “độc quyền” này. Do đó, nhờ sự tồn tại của sở hữu, chủ sở hữu có ưu thế so với các chủ thể khác trong việc chi phối, khai thác, quyết định số phận của tài sản. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể nói rằng, sự tồn tại của quan hệ sở hữu chính là sự thừa nhận của xã hội về phân tầng giữa các tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận đối với các nguồn lực khan hiếm trong xã hội.
Sở hữu chung của toàn thể cộng đồng – sở hữu công cộng hoặc sở hữu toàn dân, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội được bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng, hưởng thành quả từ việc sử dụng, khai thác các nguồn lực trong xã hội (nhất là các tài sản). Trong khi đó, sự tồn tại của các hình thức sở hữu mà chủ thể sở hữu chỉ là hữu hạn, nhóm người hoặc từng cá nhân luôn là dấu hiệu thừa nhận tình trạng bất bình đẳng giữa các thành viên xã hội trong việc tiếp cận nguồn lực (tài sản trong xã hội). Do có sự tồn tại của quan hệ sở hữu kiểu này (đặc biệt là sở hữu tư nhân) mà xã hội đã bị phân tầng thành kẻ giàu, người nghèo – một cơ cấu xã hội ở chừng mực nhất định có tác dụng kích thích xã hội phát triển (dù chính điều đó cũng có thể tiềm ẩn nhiều điểm bất ổn).
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm sở hữu dưới giác độ pháp lý (tức là quyền sở hữu) như sau: (quyền) sở hữu là độc quyền chi phối đối với một tài sản nhất định và ngăn cản người khác xâm phạm độc quyền chi phối tài sản này – (quyền) sở hữu như vậy về bản chất là một đặc quyền, một độc quyền.
1.2. Các hình thức sở hữu và nguyên nhân của việc thay thế các hình thức sở hữu trong xã hội
1.2.1. Hình thức sở hữu
Hình thức sở hữu là cách thức biểu hiện, là phương thức tồn tại của các quan hệ sở hữu. Cách quan niệm về các loại hình thức sở hữu ở phương Tây và Việt Nam có nhiều khác biệt.
Ở phương Tây, người ta quan niệm có ba dạng (hoặc ba hình thức) sở hữu cơ bản là sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể (đôi khi còn gọi là sở hữu cộng đồng) và sở hữu công cộng[14]. Ở các nước tư bản phương Tây, không có quan niệm về sở hữu toàn dân giống như sở hữu toàn dân ở Việt Nam. Sở hữu công cộng ở phương Tây được hiểu là hình thức sở hữu mà tài sản có thể được mọi người dân tiếp cận tự do. Ở Việt Nam, tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý, hoặc do tổ chức được Nhà nước ủy quyền quản lý, sử dụng, định đoạt (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước).
Ở các nước tư bản phương Tây cũng có khái niệm sở hữu nhà nước mà các học giả Việt Nam thường gọi là sở hữu tư bản nhà nước[15]. Tài sản thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp công (doanh nghiệp nhà nước) nắm giữ. Tài sản này được hình thành chủ yếu từ nguồn thuế thu của dân, từ nguồn vay của dân (trái phiếu chính phủ) hoặc từ hoạt động của chính các doanh nghiệp nhà nước.
Như vậy, có thể thấy, tiêu chí để phân định các hình thức sở hữu trong nhiều trường hợp không phải hoàn toàn rõ ràng. Tuy nhiên, các hình thức sở hữu khác nhau chủ yếu ở ba yếu tố chính:
(i) Chủ thể của quyền sở hữu;
(ii) Nội dung các quyền năng mà chủ sở hữu có thể có (chủ sở hữu có thể bị hạn chế quyền sở hữu của mình đến mức nào);
(iii) Loại tài sản mà chủ sở hữu có thể có. Chẳng hạn, đối với sở hữu tư nhân, ở Việt Nam, pháp luật không công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai. Vì thế, đất đai chỉ có thể là tài sản thuộc sở hữu nhà nước, không thể là tài sản mà các cá nhân, pháp nhân có thể sở hữu được.
1.2.2. Nguyên nhân của việc thay thế các hình thức sở hữu trong xã hội
Áp dụng mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhiều quốc gia phương Tây đã triệt để khai thác và áp dụng chế độ sở hữu tư nhân về tài sản. Sở hữu tư nhân được coi là một thành tố quan trọng của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, vì sao sở hữu tư nhân nảy sinh, thay thế các hình thức sở hữu cộng đồng đã tồn tại trước đó thì chính các học giả phương Tây cũng còn tranh cãi. Tại mục này, các tác giả đã trình bày những quan điểm cơ bản của nhà kinh tế học pháp luật Harold Demsetz – một trong những nhà lý luận hàng đầu về quyền sở hữu ở các nước tư bản phương Tây hiện nay về sự thay thế của hình thức sở hữu tư nhân cho các hình thức sở hữu khác trong xã hội.
Theo Horald Demsetz, sở hữu tư nhân được hình thành thay thế cho sở hữu công cộng, sở hữu tập thể là nhằm khuyến khích tinh thần trách nhiệm trong khai thác, sử dụng các nguồn lực trong xã hội. Nhờ việc biến tài sản thuộc sở hữu chung, sở hữu cộng đồng thành sở hữu tư nhân, các thành viên cộng đồng sẽ ý thức rõ hơn về tính khan hiếm nguồn lực trong xã hội và sử dụng tài sản một cách hiệu quả, có trách nhiệm hơn. Cũng nhờ đó, năng suất lao động, năng suất sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế được nâng lên.
Lý thuyết về sở hữu của Horald Demsetz đã được ứng dụng để luận giải cho việc khắc phục tình trạng “vô chủ”, thiếu minh bạch về chế độ trách nhiệm bằng cách tư nhân hóa nhiều doanh nghiệp nhà nước ở các nước tư bản. Cũng nhờ ứng dụng lý thuyết về sở hữu của Harold Demsetz, trong việc bảo vệ môi trường, nhiều quốc gia đã thay đổi quan niệm về môi trường sinh thái từ quan niệm trước đây coi môi trường sạch, môi trường trong lành là nguồn lực vô tận sang quan niệm “môi trường sạch, môi trường trong lành là thứ “tài nguyên khan hiếm” và cần “tư nhân hóa” loại tài sản, nguồn lực khan hiếm này bằng cách đưa ra hệ thống “quyền gây ô nhiễm” (hoặc quyền xả thải vào môi trường, quota phát thải) – thứ tài sản tư có thể chuyển nhượng để kiểm soát hành vi gây ô nhiễm môi trường trong một số lĩnh vực.
Tuy nhiên, lý thuyết về sở hữu của Harold Demsetz cũng gặp nhiều chỉ trích từ chính các học giả phương Tây. Nhiều ý kiến cho rằng đây là một lý thuyết có nhiều điểm khiếm khuyết. Lý thuyết về sở hữu của Harold Demsetz đã không thể trả lời được câu hỏi làm cách nào mà người ta biến từ sở hữu chung sang sở hữu tư nhân và liệu quá trình ngược lại (biến từ sở hữu tư thành sở hữu công) có phải luôn là bất hợp lý hay không[16].
1.3. Vai trò của sở hữu trong đời sống kinh tế – xã hội
Quyền sở hữu là đặc quyền tiếp cận các nguồn lực trong xã hội. Chủ sở hữu là người có thể tiếp cận một cách đầy đủ nhất (khi so với các chủ thể khác trong xã hội) đối với các nguồn lực trong xã hội (các tài sản vật chất và tài sản trí tuệ). Nhưng chính việc tiếp cận với các nguồn lực trong xã hội là điều kiện vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, việc tồn tại quyền sở hữu (nhất là sở hữu tư nhân) đã góp phần phân định lượng quyền năng tiếp cận, quản lý các nguồn lực trong xã hội, là tiền đề phân chia giàu nghèo. Các quy định về sở hữu – có ảnh hưởng trực tiếp tới “động lực làm việc”, “động lực sáng tạo”, “động lực làm ăn, kinh doanh” của mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, Việt Nam đã và đang tìm cách giải quyết vấn đề sở hữu để tạo nên hệ thống quan hệ sở hữu phù hợp với những đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội, khắc phục chế độ công hữu hình thức nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất của xã hội, phát huy các động lực phát triển, tăng hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Bởi vậy, tính đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh cùng với sự đa dạng về các thành phần kinh tế đã được chấp nhận và đang phát huy mặt tích cực của nó đối với quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước.
2. Pháp luật về sở hữu
2.1. Sở hữu và quyền sở hữu
2.1.1. Sở hữu
Sở hữu là phạm trù kinh tế. Sở hữu thể hiện các quan hệ sản xuất xã hội, phương thức chiếm hữu và phân phối trong từng hình thái kinh tế – xã hội và quan hệ xã hội nhất định. Sở hữu trả lời cho câu hỏi: tài sản, tư liệu sản xuất, thành quả lao động thuộc về ai, do đó nó thể hiện quan hệ giữa người với người trong quá trình tạo ra và phân phối các thành quả vật chất. Với nội dung kinh tế như vậy, sở hữu là quan hệ kinh tế khách quan.
Sở hữu có 3 đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, sở hữu thể hiện quan hệ xã hội (quan hệ giữa người với người về vật);
Thứ hai, quan hệ xã hội này mang tính khách quan, tức là quan hệ sở hữu tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người. Con người không tạo ra quan hệ sở hữu mà chỉ có thể tham gia vào quan hệ sở hữu và gây ảnh hưởng nhất định đến sự vận hành của nó theo hướng hoặc là làm cho quan hệ sở hữu hình thành, phát triển một cách nhanh chóng, thuận lợi, hoặc là làm cho chúng đi theo chiều hướng ngược lại;
Thứ ba, sở hữu là bộ phận cơ bản của quan hệ sản xuất, là nền tảng kinh tế của bất cứ hình thái kinh tế – xã hội nào.
2.1.2. Quyền sở hữu theo nghĩa khách quan – Pháp luật về sở hữu
Khi sở hữu với tư cách là một phạm trù kinh tế được pháp luật điều chỉnh thì xuất hiện quyền sở hữu với tư cách là một phạm trù pháp lý. Theo đó, quyền sở hữu mang tính chất chủ quan, vì đó là sự ghi nhận của Nhà nước. Nhưng Nhà nước không thể đặt ra quyền sở hữu theo ý chí chủ quan của mình mà quyền sở hữu được quy định trước hết bởi nội dung kinh tế của sở hữu. Nhà nước quy định quyền sở hữu, tức là thể chế hoá những quan hệ chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản.
Với tư cách là một phạm trù pháp lý, quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Đây là khái niệm quyền sở hữu theo nghĩa rộng, nghĩa khách quan. Còn theo nghĩa hẹp (nghĩa chủ quan) thì quyền sở hữu được hiểu là các quyền năng cụ thể của chủ sở hữu đối với tài sản của mình.
Ở Việt Nam, chế định về quyền sở hữu được quy định ở Phần thứ hai của Bộ luật dân sự năm 2005. Trên cơ sở cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa với các hình thức kinh doanh đa dạng, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, Bộ luật dân sự đã quy định khá tập trung về vấn đề quyền sở hữu: từ những vấn đề có tính nguyên tắc đến các vấn đề cụ thể, tạo cơ sở pháp lý để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền sở hữu của mình, tôn trọng quyền sở hữu của người khác; đồng thời là căn cứ để Toà án, các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu, góp phần bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền của chủ sở hữu tài sản.
2.1.3. Quyền sở hữu theo nghĩa chủ quan – các quyền năng của chủ sở hữu
Theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu là quyền của chủ thể, quyền thuộc về một chủ thể nào đó liên quan đến việc đối xử với tài sản mà họ được pháp luật công nhận là chủ sở hữu. Với ý nghĩa như vậy, quyền sở hữu là một quyền công dân, quyền con người, được pháp luật tất cả các nước thừa nhận và bảo vệ.
Thông thường, Nhà nước công nhận cho chủ sở hữu có ba quyền năng là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản. Trong đó, quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản. Sự chiếm hữu chỉ có thể được coi là hợp pháp nếu nó được thực hiện trên cơ sở những căn cứ được quy định trong pháp luật hoặc những căn cứ khác không trái pháp luật.
Quyền sử dụng: là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Trọng tâm của việc điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề này là việc pháp luật phải quy định được những cơ chế, biện pháp, chế độ để kích thích các chủ sở hữu khai thác tài sản của mình một cách có hiệu quả. Sự khuyến khích này được thực hiện bằng hai cách: (1) đưa ra các ưu đãi về tài chính cho bất cứ người nào đã nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của mình; (2) hạn chế và có thể kể cả việc tước quyền tài sản đối với những ai không sử dụng hoặc sử dụng không tốt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Quyền định đoạt: là quyền quyết định số phận pháp lý của tài sản bằng cách thay đổi vị trí của tài sản trong hệ thống quan hệ xã hội.
2.2. Quyền sở hữu và các loại vật quyền khác
Sự khác biệt giữa quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, quyền sở hữu là một loại quyền có trước, còn vật quyền khác là quyền phái sinh, chỉ có thể xuất hiện sau khi có quyền sở hữu.
Thứ hai, quyền sở hữu là loại quyền độc lập, còn vật quyền khác là quyền phụ thuộc.
Thứ ba, chủ sở hữu chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình, còn người có các quyền khác đối với tài sản chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác.
Thứ tư, quyền năng của chủ sở hữu rộng hơn quyền năng của người có quyền khác đối với tài sản. Các quyền khác đối với tài sản thường bị hạn chế về nội dung vì phạm vi quyền mà chủ sở hữu trao cho những người có quyền này nhiều hay ít là phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu.
2.3. Điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
2.3.1. Tại Trung Quốc:
Năm 2006, Quốc hội Trung Quốc đã ban hành Luật quyền tài sản. Trước khi dự thảo Luật quyền tài sản được thông qua, pháp luật về sở hữu của Trung Quốc chủ yếu dựa trên bộ khung pháp lý quan trọng nhất là Hiến pháp và Bản Quy tắc chung về Luật dân sự của Trung Quốc năm 1996 (sau đây gọi tắt là Bản Quy tắc) và một số văn bản pháp luật có liên quan như Luật quản lý đất đai nông thôn, Luật quản lý đất thành thị, Bản Quy chế cấp đất.v.v…
a) Khái niệm tài sản
Khái niệm “tài sản” theo pháp luật dân sự Trung Quốc bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Tài sản vô hình được hiểu bao gồm các quyền tài sản như sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền và các công trình là sản phẩm của lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Tài sản hữu hình được phân thành tài sản đặc định và vật cùng loại. Quyền sở hữu tài sản sẽ không được công nhận nếu vi phạm pháp luật. Quyền sở hữu tài sản được xác lập thông qua hợp đồng hay các phương thức hợp pháp khác sẽ được chuyển giao đồng thời với tài sản đó, trừ phi pháp luật quy định khác[17].
Giống phần lớn các hệ thống pháp luật khác, pháp luật dân sự Trung Quốc cũng phân biệt giữa tài sản là bất động sản và tài sản là động sản. Bất động sản là tài sản không thể di chuyển được. Để chuyển giao tài sản là bất động sản như quyền sử dụng đất, thì việc đăng ký là thủ tục phải được thực hiện như là một điều kiện để hợp đồng chuyển giao có hiệu lực. Việc đăng ký đối với động sản chỉ được đặt ra khi đó là các phương tiện đi lại, tàu thuỷ, máy bay và các tài sản khác có liên quan[18].
b) Các hình thức sở hữu: Pháp luật Trung Quốc quy định các hình thức sở hữu sau đây: (i) Sở hữu nhà nước; (ii) Sở hữu tập thể; (iii) Sở hữu cá nhân; (iv) Các hình thức sở hữu khác: như sở hữu của tổ chức tôn giáo và một số loại hình sở hữu khác.
c) Quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc về sự cần thiết xây dựng mối quan hệ bình đẳng giữa các hình thức sở hữu.
Trong suốt hai thập kỷ qua, địa vị pháp lý của sở hữu tư nhân đã có nhiều biến chuyển tích cực tại Trung Quốc, sự tiến bộ này được thể hiện qua các lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Cho đến tận những năm giữa thập kỷ 80, sở hữu công về tư liệu sản xuất vẫn được tiếp tục coi là nền tảng không thể thay đổi được của chủ nghĩa xã hội. Chẳng hạn, Hiến pháp sửa đổi năm 1982 không quy định cụ thể địa vị của thành phần kinh tế tư nhân tại Trung Quốc; sở hữu công là một thành phần chủ đạo của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp sửa đổi năm 1988 (tiếp tục được sửa đổi năm 1999) đã chính thức công nhận thành phần kinh tế tư nhân như là “sự bổ sung” cho “nền kinh tế công xã hội chủ nghĩa”. Những năm cuối của thập kỷ 90, học thuyết “giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội” đã được tự do hơn nữa. Theo báo cáo của Chủ tịch nước tại kỳ họp Quốc hội lần thứ 15 (năm 1997) thì bất kỳ hình thức sở hữu nào đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh năng lực xã hội, sức mạnh quốc gia và đời sống nhân dân đều được công nhận (sử dụng) để phục vụ cho mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Hệ thống kinh tế cơ bản của Trung Quốc trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội là đặt sở hữu công trong một vị trí chủ đạo và có sự đa dạng các hình thức sở hữu khác cùng phát triển.
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 16 tháng 12/2002, dường như sự xung đột chính sách về việc nắm giữ thành phần kinh tế công như một thành phần kinh tế chủ đạo và thúc đẩy các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cùng phát triển một lần nữa được giải thích. Theo bản báo cáo năm 2002 của Chủ tịch Giang Trạch Dân, có hai chính sách không nên “chống lại lẫn nhau”, trái lại, nên “thống nhất” trong quá trình “hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa”[19]. Các thành phần kinh tế trong tất cả các hình thức sở hữu có thể sẽ đáp ứng được những lợi thế của những thành phần kinh tế trong thị trường cạnh tranh, “khuyến khích lẫn nhau cho sự phát triển chung”. Cần hoàn thiện hệ thống pháp lý để bảo vệ “tài sản tư nhân” và tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các thành phần kinh tế tư nhân và cá thể. Theo bản Hiến pháp sửa đổi năm 2004, tài sản tư nhân được coi ngang bằng với tài sản công là thiêng liêng và bất khả xâm phạm, không có sự phân biệt đối xử đối với tài sản tư nhân. Do vậy, ít nhất về mặt định tính, thành phần kinh tế tư nhân và thành phần kinh tế công sẽ là các đối tác bình đẳng trong thị trường.
Hơn nữa, báo cáo năm 2002 còn kêu gọi cần phải thúc đẩy hơn nữa công cuộc “đa dạng hoá” cơ cấu sở hữu (vốn) của tài sản nhà nước, đặc biệt là tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Với một vài sự ngoại lệ đặc biệt buộc phải thuộc sở hữu nhà nước, phần sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước sẽ được “đa dạng hoá” thông qua “hệ thống cổ đông”. Thêm vào đó, chỉ một số doanh nghiệp quan trọng vẫn tiếp tục do Nhà nước kiểm soát thông qua cơ chế cổ đông chi phối. Với một khung chính sách như vậy, ranh giới giữa sở hữu nhà nước và sở hữu ngoài quốc doanh đã được xác định tại mức độ cổ đông. Kết quả là, “doanh nghiệp nhà nước” được chuyển đổi thành “doanh nghiệp do nhà nước quản lý”. Đây là kết quả của quá trình cải cách “phân chia quyền” trong giai đoạn trước đã trở thành “doanh nghiệp do nhà nước đầu tư” sau khi các doanh nghiệp này chuyển đổi thành một tập đoàn hiện đại với đa đạng cơ cấu vốn. Sở hữu công và tư nhân không được bảo hộ bình đẳng, nhưng đồng thời “thống nhất” trong một hệ thống như vậy. Vì vậy, với một mức độ thấp nhất, sở hữu công và sở hữu tư nhân là rõ ràng trong sự biến hoá có tính chất thống trị ở cả hai mức độ chính sách và Hiến pháp.
2.3.2. Tại Cộng hòa Liên bang Đức:
a) Quyền sở hữu và các loại hình sở hữu
– Vật quyền và quyền sở hữu:
Trong chế độ xã hội có sự điều chỉnh của pháp luật, thì các đồ vật tồn tại không thể được sử dụng chung một cách tuỳ ý, mà mọi chế độ khai thác, định đoạt chúng phải xuất phát từ chế định pháp luật về quyền sở hữu – một trong những chế định pháp luật quan trọng nhất của vật quyền. Bên cạnh quyền sở hữu với tính chất là vật quyền toàn diện nhất đối với vật, còn có các vật quyền khác như: quyền chiếm giữ, quyền hưởng dụng, các quyền địa dịch, quyền được xây dựng trên đất của người khác cũng như các quyền phát mại đối với những vật là vật bảo đảm (quy định tại Phần thứ ba Bộ luật dân sự của Đức).
Quyền sở hữu được hiểu là một quyền thống lĩnh tuyệt đối của chủ thể đối với một vật và quyền này có hiệu lực đối với mọi người. Từ quyền tuyệt đối này, chủ sở hữu vật có các quyền cụ thể như yêu cầu hoàn trả sở hữu (nếu sở hữu bị tước đoạt), yêu cầu huỷ bỏ những tác động làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu hoặc quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm (khác so với quyền tuyệt đối, pháp luật của Đức quy định quyền tương đối của các chủ thể là các quyền yêu cầu cụ thể phát sinh từ các quan hệ trái vụ).
– Bộ luật dân sự Đức chia vật thành hai loại: động sản và bất động sản. Bất động sản bao gồm đất và những cấu thành cơ bản của đất. Động sản là mọi đồ vật mà vị trí không gian của chúng có thể thay đổi được. Xuất phát từ đặc tính của hai loại vật nói trên, pháp luật dân sự của Đức quy định hai cách thức chuyển dịch quyền sở hữu khác nhau đối với động sản và bất động sản, thể hiện rõ nguyên tắc công khai thông qua việc chiếm giữ (đối với động sản) và đăng ký (đối với bất động sản). Ngoài ra, đối với một số vật quyền nhất định như địa dịch, nợ đất, nợ hoa lợi, thế chấp chỉ có thể được xác lập đối với bất động sản.
– Các quyền năng từ quyền sở hữu: Khác với quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam, Bộ luật dân sự của Đức không liệt kê chủ sở hữu có những quyền năng gì đối với vật thuộc sở hữu của họ, mà quy định các quyền năng bằng một quy định chung “có thể tuỳ ý” thực hiện mọi hành vi đối với vật thuộc sở hữu của mình, nếu không trái với pháp luật hoặc quyền của người thứ ba. Các khả năng khai thác cụ thể phụ thuộc vào loại vật và các khả năng này có thể đã tồn tại hoặc có thể sẽ xuất hiện trong tương lai. Tuy nhiên có thể khái quát bằng hai nhóm quyền năng chính là: (i) Quyền khai thác; (ii) Quyền loại trừ tác động của người thứ ba.
– Các hình thức sở hữu: Pháp luật của Đức quy định hai hình thức sở hữu, đó là sở hữu riêng và sở hữu chung. Chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Ngoài ra, Luật về sở hữu căn hộ của Đức năm 1951 đưa ra một dạng sở hữu đặc thù đó là sở hữu căn hộ. Đây là một dạng sở hữu kết hợp giữa sở hữu chung và sở hữu riêng. Sở hữu riêng: Hình thức phổ biến nhất của quyền sở hữu là sở hữu riêng, tức là quyền sở hữu đối với một vật thuộc một người (thể nhân hoặc pháp nhân) duy nhất. Sở hữu chung: Theo pháp luật dân sự của Đức thì trong trường hợp quyền sở hữu của nhiều người thì hình thức sở hữu đó gọi là sở hữu chung. Có hai loại sở hữu chung là sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
Điều 903 Bộ luật dân sự Đức quy định, chủ sở hữu có thể tuỳ ý hành xử đối với vật thuộc sở hữu của mình, nếu như việc hành xử đó không trái với pháp luật hoặc quyền của người thứ ba. Giới hạn của sự tuỳ ý theo quy định của Điều 903 được hiểu là một trật tự cần thiết, có thể chấp nhận được của cuộc sống chung trong xã hội. Giới hạn đối với quyền sở hữu chính là sự điều chỉnh cần thiết của quyền tự do sử dụng định đoạt quyền sở hữu để phù hợp với cuộc sống chung của trong xã hội. Giới hạn quyền sở hữu này cũng được khẳng định trong câu 2 Điều 14 Hiến pháp, Quốc hội Đức có thể quy định những hạn chế đối với quyền sở hữu. Do vậy khi hành xử quyền sở hữu, trong trường hợp cụ thể, chủ sở hữu phải tính đến những giới hạn được quy định trong pháp luật.
Việc tước quyền sở hữu chỉ được thực hiện nếu có đủ điều kiện sau:
+ Vì lợi ích của cộng đồng;
+ Thông qua một Đạo luật hoặc trên cơ sở một Đạo luật. Đạo luật này quy định về cách thức và mức đền bù cho người bị tước quyền sở hữu.
Khi quyền sở hữu bị tước, người bị mất quyền sở hữu có quyền được đền bù giá trị quyền sở hữu. Trong trường hợp có tranh chấp về mức đền bù, chủ sở hữu có thể kiện theo thủ tục tố tụng dân sự.
Vì quyền sở hữu cho phép chủ sở hữu của một vật được tự do hành xử đối với đồ vật đó, nên pháp luật phải cung cấp cho chủ sở hữu các công cụ tự vệ để loại trừ mọi tác động trái phép ảnh hưởng đến quyền sở hữu của mình, bất kể những tác động này do cá nhân hay cơ quan nhà nước gây ra.
– Bảo vệ chống lại các biện pháp lập pháp. Đối với nhà lập pháp, quyền sở hữu không phải là không có giới hạn. Quốc hội được phép quy định về nội dung và giới hạn của quyền sở hữu và dưới những điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 14 Hiến pháp, có thể thực hiện việc tước quyền sở hữu. Trong trường hợp quyền sở hữu bị ảnh hưởng một cách trái phép thông qua một Đạo luật, thì chủ sở hữu có thể kiện ra Toà án Hiến pháp chống lại Đạo luật do Quốc hội thông qua. Nếu việc tước quyền sở hữu thông qua một Đạo luật hợp pháp, nhưng người bị mất quyền sở hữu không đồng ý với mức bồi hoàn, thì việc bảo hộ về sự tồn tại của quyền sẽ được thay thế bằng sự bảo hộ giá trị của quyền. Trong trường hợp này, việc bảo vệ quyền được đền bù theo mức hợp lý thông qua thủ tục tố tụng tại Toà án dân sự.
– Bảo vệ trước các biện pháp hành chính. Cơ quan hành chính có thể làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu thông qua quyết định hành chính, hoặc từ chối cấp giấy phép mà không có căn cứ pháp luật. Cơ quan hành chính chỉ được ra những quyết định hành chính can thiệp vào quyền sở hữu của công dân, nếu chúng được ban hành trên cơ sở một Đạo luật và quyết định hành chính đó được thông qua theo đúng thủ tục hành chính do pháp luật quy định. Chủ sở hữu có thể đưa đơn kiện đến Toà án hành chính yêu cầu huỷ bỏ quyết định hành chính trái pháp luật, hoặc buộc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải cấp phép cho mình.
Quyền sở hữu có thể bị vi phạm thông qua các Nghị định hoặc quy chế của chính quyền địa phương. Trong trường hợp này, chủ sở hữu có quyền yêu cầu Toà án hành chính mở thủ tục kiểm tra các quy phạm của các văn bản pháp quy có liên quan.
Trong trường hợp quyền sở hữu bị ảnh hưởng thông qua hành vi hành chính, chủ sở hữu có quyền kiện ra Toà án hành chính yêu cầu cơ quan hành chính phải chấm dứt hành vi hành chính đó. Nếu chủ sở hữu bị thiệt hại thông qua hành vi công quyền, thì có thể kiện yêu cầu được đền bù hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Hiến pháp, hoặc Bộ luật dân sự.
– Bảo vệ trước phán quyết của Toà án. Trong trường hợp chủ sở hữu cho rằng quyền sở hữu của mình bị vi phạm thông qua một phán quyết sai của Toà án, thì chủ sở hữu đó có thể kiện ra Toà án Hiến pháp Liên bang.
– Bảo vệ trước tác động của cá nhân, pháp nhân theo pháp luật tư theo các quy định pháp luật dân sự. Việc bảo hộ này được thực hiện thông qua những quyền tự vệ như quyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, quyền huỷ bỏ những tác động đối với quyền sở hữu và quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại để đền bù giá trị quyền sở hữu cho chủ sở hữu.
2.3.3. Tại Cộng hoà Liên bang Nga:
a) Các hình thức sở hữu và loại sở hữu
Ở Cộng hoà Liên bang Nga có sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu cộng đồng và các hình thức sở hữu khác. Ở Nga, người ta phân biệt sở hữu tư nhân với các hình thức sở hữu khác chủ yếu vì chế độ pháp lý đối với tài sản trong hình thức sở hữu này có một số đặc thù như sau: Thứ nhất, tài sản này thuộc về một người, của một người (cá nhân, pháp nhân); Thứ hai, tài sản với tư cách là khách thể của quyền sở hữu tư nhân có phần bị hạn chế hơn về chủng loại và về quy mô so với tài sản thuộc các hình thức sở hữu khác, nhất là sở hữu nhà nước; Thứ ba, chủ sở hữu tư nhân là người có quyền thực hiện các quyền năng đối với tài sản của mình một cách độc lập, không cần phải tham khảo ý kiến của bất cứ ai khác, không phụ thuộc vào ý chí của bất cứ người nào khác.
Đối với sở hữu của Nhà nước thì tình hình lại khác. Trong hình thức sở hữu này, chủ sở hữu là Nhà nước nói chung bao gồm một hệ thống các cơ quan và các cơ quan này trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình được giao quyền hạn nhất định liên quan đến việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của Nhà nước. Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tài sản bao gồm nhiều cơ quan khác nhau mà không phải là một chủ thể pháp lý duy nhất. Ngoài ra, khi Nhà nước giao tài sản của mình cho các chủ thể khác sử dụng, thì Nhà nước không giao toàn bộ các quyền năng mà chỉ giao có mức độ mà thôi. Vì vậy, người được giao tài sản của Nhà nước không bao giờ có thể thực hiện 3 quyền năng của mình một cách đầy đủ, độc lập và họ chỉ được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản này theo ý chí của chủ sở hữu nhà nước mà không được tự mình quyết định.
Trong một hình thức sở hữu lại có thể có các loại sở hữu, vì trong một hình thức sở hữu đôi khi có thể có nhiều nhóm chủ sở hữu khác nhau và các nhóm người này có thể có một số quyền năng đặc thù mà nhóm người khác không thể có. Ví dụ, trong sở hữu chung, mặc dù tất cả các chủ sở hữu đều được gọi là đồng chủ sở hữu nhưng do tài sản chung đó có trường hợp được xác định rõ cho từng người, có trường hợp lại không được xác định rõ nên chế độ pháp lý đối với tài sản chung trong hai trường hợp này là khác nhau. Đây chính là lý do để chia sở hữu chung thành hai loại là sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
b) Căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu
– Theo Điều 218 Bộ luật dân sự thì căn cứ phát sinh quyền sở hữu bao gồm: (i) Do tự mình làm ra tài sản đó, vật đó; (ii) Hợp đồng mua bán, trao đổi… (iii) Các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tịch thu, quốc hữu hoá…). Căn cứ phát sinh quyền sở hữu được chia làm hai loại là căn cứ ban đầu và căn cứ phái sinh. Căn cứ ban đầu là những căn cứ mà nhờ chúng, quyền sở hữu đối với một tài sản nào đó được xác lập lần đầu cho người đã làm ra tài sản đó. Căn cứ phái sinh là những căn cứ mà nhờ chúng quyền sở hữu của một người được xác lập thông qua việc chuyển giao tài sản từ người khác với tư cách là người chủ sở hữu trước.
Trong các loại căn cứ làm phát sinh quyền sở hữu có một loại căn cứ gọi là thời hiệu xác lập quyền. Theo căn cứ này thì cá nhân, pháp nhân có thể trở thành chủ sở hữu tài sản nếu đã chiếm giữ tài sản đó với thời hạn là 15 năm (đối với bất động sản) và 5 năm (đối với động sản). Tuy nhiên, để trở thành chủ sở hữu, ngoài thời hạn như vừa nêu trên thì sự chiếm hữu còn phải thoả mãn ba điều kiện khác là sự chiếm hữu phải ngay tình, công khai và liên tục.
– Căn cứ chấm dứt quyền sở hữu. Nếu căn cứ vào ý chí của chủ sở hữu (người bị mất quyền sở hữu) thì căn cứ chấm dứt quyền sở hữu được chia thành ba nhóm:
Thứ nhất, quyền sở hữu bị chấm dứt ngoài sự mong muốn của chủ sở hữu do sự tác động của thiên tai hoặc do các nguyên nhân khác. Trong trường hợp này, chủ sở hữu chỉ có thể yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại nếu người gây ra thiệt hại đối với tài sản của mình là có lỗi hoặc tài sản đã được bảo hiểm.
Thứ hai, quyền sở hữu bị chấm dứt theo ý chí của chủ sở hữu thông qua các hành vi sử dụng và định đoạt của họ.
Thứ ba, quyền sở hữu bị chấm dứt trái với ý muốn của chủ sở hữu.
Tại khoản 2 Điều 235 quy định một cách đầy đủ các căn cứ thuộc nhóm này. Sự liệt kê này không được giải thích rộng hơn và cũng không thể được bổ sung thêm bởi các luật khác. Các căn cứ chấm dứt quyền sở hữu này có hai đặc điểm: một là, tài sản bị tước đoạt thì phải được bồi hoàn về giá trị; hai là, các căn cứ này chỉ áp dụng cho các hình thức sở hữu không phải là sở hữu công cộng. Các loại gia cầm cũng có thể bị tước đoạt khỏi chủ sở hữu nếu họ đối xử vô nhân đạo đối với chúng.
Đặc biệt, đối với bất động sản thì Nhà nước còn có thái độ nghiêm khắc hơn. Ví dụ: đất sản xuất nông nghiệp, Nhà nước sẽ thu hồi nếu sau ba năm kể từ ngày có đất mà đất không được sử dụng, khai thác hoặc được sử dụng, khai thác không đúng theo quy định của pháp luật đất đai. Đối với nhà ở, nếu không được sử dụng đúng mục đích thì cũng trong thời gian ba năm kể từ ngày có nhà ở, Nhà nước cũng sẽ thu hồi.
Quốc hữu hoá cũng được pháp luật Cộng hoà Liên bang Nga quy định với tư cách là một căn cứ chấm dứt quyền sở hữu. Năm 2003, Nga đã ban hành luật Liên bang: “Về việc chuyển tài sản thuộc sở hữu của công dân, pháp nhân thành sở hữu của Cộng hoà Liên bang Nga”. Theo Luật này, thì người có tài sản bị quốc hữu hoá sẽ được Nhà nước bồi thường giá trị và nếu có tranh chấp có thể xảy ra thì sẽ do Toà án giải quyết.
c) Bảo vệ quyền sở hữu và các loại vật quyền khác
Ngoài quyền sở hữu, ở Cộng hoà Liên bang Nga còn có các loại vật quyền khác sau đây: Quyền sử dụng đất suốt đời và có thể để lại thừa kế; Quyền tiến hành kinh doanh (đối với doanh nghiệp nhà nước); Quyền quản lý nghiệp vụ (đối với các cơ quan, tổ chức nhà nước).
Các loại vật quyền nêu trên đều có chung một số đặc trưng sau đây:
Một là, đều mang tính chất tuyệt đối. Các chủ thể khác (ngoài chủ sở hữu) đều phải tôn trọng và không vi phạm quyền của chủ sở hữu tài sản.
Hai là, tất cả các vật quyền đều được luật quy định, các chủ thể của thị trường không thể tự mình đặt ra các loại vật quyền theo ý muốn của mình.
Ba là, đối với tất cả các loại vật quyền, pháp luật đều đặt ra một số cơ chế pháp lý đặc biệt để bảo vệ, đó là cơ chế “kiện đòi lại vật” và cơ chế “kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở chủ sở hữu thực hiện các quyền năng của mình”.
Tất cả các ngành luật, từ hình sự, hành chính đến dân sự… đều góp phần bảo vệ quyền sở hữu nói chung và vật quyền nói riêng.
+ Bảo vệ quyền sở hữu theo nghĩa rộng bao gồm các việc: (1) bảo đảm các điều kiện để chủ sở hữu sử dụng tài sản của mình một cách có hiệu quả; (2) tạo điều kiện để quyền sở hữu được xác lập một cách nhanh chóng, thuận lợi; (3) xây dựng các cơ chế để bảo vệ tính bất khả xâm phạm của quyền sở hữu.
+ Theo nghĩa hẹp, thì bảo vệ quyền sở hữu phải thực hiện ba loại công việc: (1) ngăn ngừa và trừng phạt các hành vi trái pháp luật; xâm hại đến quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản; (2) khôi phục các quyền bị vi phạm; (3) khắc phục các hậu quả xấu do các hành vi vi phạm gây ra cho chủ sở hữu tài sản.
Về mặt dân sự, ở nước Nga có hai phương thức chủ yếu bảo vệ quyền sở hữu sau đây:
– Kiện đòi lại vật. Cách thức này được áp dụng khi có các điều kiện sau đây: (i) Người đi kiện phải có bằng chứng chứng minh rằng mình là chủ sở hữu đích thực của tài sản đó; (ii) Người đi kiện là người trên thực tế đã không chiếm giữ được tài sản; (iii) Tài sản mà người đó kiện đòi lại là vật đặc định; (iv) Tài sản này đang tồn tại dưới trạng thái vật chất, còn nguyên vẹn, không bị tiêu huỷ, không bị làm lại; (v) Tài sản trên thực tế đang nằm trong tay người bị kiện. Việc kiện đòi có thể được toà án chấp nhận nếu người chiếm hữu là người không ngay tình. Nếu người chiếm hữu tài sản là ngay tình (không biết và không thể biết được rằng việc chiếm hữu của mình là bất hợp pháp) thì việc giải quyết đơn yêu cầu sẽ được toà án xử lý như sau: tài sản sẽ được trả lại cho chủ cũ trong hai trường hợp: Thứ nhất, người chiếm hữu ngay tình có được tài sản mà không phải trả tiền; Thứ hai, tài sản rời khỏi sự chiếm hữu của chủ cũ ngoài ý muốn của họ (bị ăn cắp hoặc bị đánh rơi). Chủ sở hữu phải chứng minh về việc tài sản đã rời khỏi họ một cách trái với ý chí của họ. Các trường hợp khác, tài sản sẽ không được trả lại cho chủ sở hữu.
– Kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản. Trong phương thức này, chủ sở hữu không mất quyền chiếm hữu đối với tài sản của mình nhưng do có những hành vi vi phạm pháp luật của một chủ thể nào đó, nên chủ sở hữu đã không thể thực hiện các quyền năng của mình một cách đầy đủ, thuận lợi. Theo Bộ luật dân sự Cộng hoà Liên bang Nga, trong những trường hợp này, chủ sở hữu có quyền yêu cầu toà án ra quyết định buộc người vi phạm phải chấm dứt hành vi của mình và bồi thường thiệt hại xảy ra. Điểm đặc trưng và có giá trị nhất của phương thức bảo vệ quyền sở hữu này là ở tính ngăn ngừa, bảo vệ từ xa. Nó có thể được áp dụng khi chỉ mới xuất hiện nguy cơ gây cản trở chứ hành vi vi phạm chưa xảy ra trên thực tế. Ví dụ, một trạm xăng gần khu dân cư tuy chưa được xây dựng nhưng đã có đề án thì chủ sở hữu (dân cư xung quanh) đã có thể yêu cầu toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ra quyết định không cho xây dựng trạm xăng này.
2.3.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc nghiên cứu pháp luật về sở hữu ở các nước
Thứ nhất, các nước đều rất coi trọng chế định quyền sở hữu trong hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản của Nhà nước mình. Trong tổng thể các quan hệ xã hội do Bộ luật dân sự điều chỉnh, quan hệ sở hữu luôn luôn được coi là quan trọng nhất, quyết định nội dung và phương hướng phát triển của các quan hệ sản xuất khác còn lại.
Thứ hai, coi trọng vai trò chủ đạo của Bộ luật dân sự trong việc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ sở hữu. So với Hiến pháp thì Bộ luật dân sự của Cộng hoà Liên bang Nga, Cộng hoà Liên bang Đức đã dành rất nhiều điều luật để quy định về quyền sở hữu. Các quy định này đã ghi nhận các hình thức sở hữu, nội dung quyền sở hữu, căn cứ phát sinh, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu, các hạn chế đối với quyền sở hữu, các phương pháp bảo vệ quyền sở hữu… Như vậy, Bộ luật dân sự là nguồn cơ bản nhất về quyền sở hữu ở các nước này. Các văn bản khác chỉ đóng vai trò là các công cụ để cụ thể hoá các quy định về quyền sở hữu đã được ghi nhận trong Bộ luật dân sự mà thôi.
Thứ ba, Bộ luật dân sự của các nước đều ghi nhận nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ sở hữu thuộc các hình thức sở hữu khác nhau. Quy định này có ý nghĩa rất lớn đối với Việt Nam trong quá trình nghiên cứu, xây dựng các phương thức bảo hộ chủ sở hữu ở nước ra. Đây chính là kinh nghiệm lập pháp quan trọng để có thể xoá bỏ trong Bộ luật dân sự hiện hành của Việt Nam những quy định có nội dung trái với nguyên tắc bình đẳng này. Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, sự bình đẳng này là không tuyệt đối. Điều này thể hiện ở chỗ Bộ luật dân sự nhiều nước đã không cho phép chủ sở hữu tư nhân (cá nhân, pháp nhân) có quyền sở hữu đối với một số tài sản nhất định. Quy định này phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của Việt Nam, do đó, cần được nghiên cứu, tiếp thu trong pháp luật dân sự của Việt Nam.
Thứ tư, khẳng định vai trò duy nhất của Luật trong việc ghi nhận quyền sở hữu. Ở các nước tiên tiến, các hình thức sở hữu và các đặc thù trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức sở hữu khác nhau chỉ có thể được Luật quy định mà không thể do các văn bản dưới luật khác quy định. Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam vì nó không cho phép các cơ quan hành pháp có thể can thiệp một cách tuỳ tiện vào một lĩnh vực quyền quan trọng và “thiêng liêng” của con người như quyền sở hữu đối với tài sản.
Thứ năm, không có tự do tuyệt đối về sở hữu. Trong Bộ luật dân sự các nước, bên cạnh việc ghi nhận nguyên tắc tự do sở hữu, pháp luật cũng ghi nhận những ngoại lệ từ nguyên tắc này, tức là đã quy định những hạn chế đối với quyền sở hữu trong những trường hợp cần thiết, vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Ví dụ:
– Quyền sở hữu tài sản có thể bị tước bỏ từ cá nhân, tổ chức vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng;
– Quyền sở hữu tài sản cũng có thể bị thu hồi nếu tài sản đó không được sử dụng trong một thời gian nhất định theo Luật định;
– Việc sử dụng tài sản gây ra thiệt hại cho môi trường (ô nhiễm đất đai, không khí, nước…) có thể là lý do để chủ sở hữu tài sản bị tước quyền sở hữu tài sản;
– Việc đối xử vô nhân đạo đối với vật nuôi cũng là lý do để cơ quan nhà nước có thẩm quyền tước quyền tài sản của người có hành vi như vậy đối với vật nuôi của mình. Cũng tương tự như vậy, nếu tài sản có giá trị văn hoá của quốc gia đã bị chủ sở hữu ứng xử một cách không thoả đáng, có thể gây ra nguy cơ làm hư hỏng, hoặc mất mát tài sản đó.
Như vậy, ở các nước, kể cả các nước tiên tiến nhất thì cũng không có quan niệm về quyền sở hữu tuyệt đối, không có tự do sở hữu tuyệt đối. Đây cũng là một đặc điểm về quan niệm khoa học cũng như về thực tiễn lập pháp mà Việt Nam có thể và cần phải tiếp thu trong hoạt động thực tiễn của mình. Tuy nhiên, như đã khẳng định ở trên, việc hạn chế quyền sở hữu chỉ được thực hiện bởi một cơ quan duy nhất là Quốc hội mà không thể là bất kỳ ai khác.
Thứ sáu, bên cạnh quyền sở hữu, các nước còn công nhận các loại vật quyền khác như: quyền xây dựng trên đất của người khác, quyền hưởng dụng, quyền địa dịch, quyền thế chấp đối với bất động sản và quyền cầm cố đối với động sản… Thực tiễn Việt Nam cho thấy, trong thời gian qua, chúng ta chỉ mới quan tâm điều chỉnh pháp luật đối với quyền sở hữu với tư cách là một loại vật quyền toàn diện nhất, đặc trưng nhất mà chưa chú ý đúng mức đối với các loại vật quyền khác như quyền sử dụng đất; quyền quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước; quyền địa dịch. Sự không quan tâm này đã dẫn đến tình trạng thiếu nhiều quy định pháp luật về các vật quyền và hậu quả là đã làm tổn hại quyền tài sản của các chủ thể có các quyền này.
Thứ bảy, các nước xem trọng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu và các loại vật quyền khác. Ví dụ: ở Đức, ngoài các công cụ bảo vệ quyền sở hữu truyền thống như kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở chủ sở hữu thực hiện các quyền của mình, còn quy định thêm nhiều cơ chế khác để bảo vệ một cách triệt để quyền sở hữu tài sản. Theo Điều 90 Luật Toà án Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức thì chủ sở hữu có thể kiện ra Toà án Hiến pháp để chống lại một đạo luật nào đó do Quốc hội ban hành nếu đạo luật đó hạn chế một cách trái pháp luật các quyền sở hữu của mình. Những cơ chế bảo vệ quyền sở hữu hữu hiệu như vậy là nội dung quan trọng và cần thiết để chúng ta quan tâm nghiên cứu và ghi nhận ở Việt Nam trong những thời điểm thích hợp. Sự quan tâm một cách thoả đáng trong việc bảo vệ quyền sở hữu là một kinh nghiệm hay mà Việt Nam phải lưu ý trong quá trình hoàn thiện pháp luật về sở hữu ở nước ta.
II. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU Ở VIỆT NAM
1. Vai trò chủ đạo của Bộ luật dân sự năm 2005 trong việc điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ sở hữu ở Viêt Nam
1.1. Bộ luật dân sự năm 2005 – nguồn cơ bản của pháp luật về sở hữu ở Việt Nam
Trong việc điều chỉnh quan hệ sở hữu, vị trí trung tâm của Bộ luật dân sự năm 2005 thể hiện ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, Bộ luật dân sự đã phản ánh tập trung nhất, hệ thống nhất các quan điểm mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về sở hữu và cụ thể hoá các quy định cơ bản của Hiến pháp về sở hữu.
Thứ hai, Bộ luật dân sự đã quy định một cách đầy đủ và toàn diện nhất các vấn đề về quyền sở hữu: khái niệm, nội dung quyền sở hữu, căn cứ phát sinh, căn cứ chấm dứt quyền sở hữu, hình thức sở hữu, các hạn chế đối với quyền sở hữu, các phương pháp bảo vệ quyền sở hữu… Như vậy, Bộ luật dân sự là nguồn cơ bản nhất về quyền sở hữu ở nước ta; các văn bản khác chỉ đóng vai trò là các công cụ để cụ thể hoá các quy định về quyền sở hữu đã được ghi nhận trong Bộ luật dân sự.
Thứ ba, các quy định về tài sản và quyền sở hữu của Bộ luật dân sự là cơ sở để xây dựng các quy phạm pháp luật khác có liên quan đến sở hữu và quyền sở hữu như: Luật hôn nhân và gia đình, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã…
1.2. Những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2005 về sở hữu
Thứ nhất, Bộ luật dân sự năm 2005 đã mở rộng đối tượng của quyền sở hữu. Theo đó, Điều 163 của Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Thứ hai, kế thừa và phát triển các quy định trong Bộ luật dân sự năm 1995 về chế định quyền sở hữu, các quy định trong chế định quyền sở hữu của Bộ luật dân sự năm 2005 một mặt, vẫn giữ nguyên tắc quyền của chủ sở hữu chiếm vị trí trung tâm, là xuất phát điểm để quy định các quy chế pháp lý tương ứng; mặt khác, quy định rõ ràng hơn, đầy đủ hơn về quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản, nhưng cũng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chúng (Điều 173).
Thứ ba, Bộ luật dân sự năm 2005 hoàn thiện cơ chế đăng ký quyền sở hữu tài sản. Theo đó, Điều 167 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản. Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Còn khoản 5, Điều 173 quy định: “Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản phải đăng ký bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề theo thoả thuận và các quyền khác theo quy định của pháp luật”. Những vấn đề cụ thể như trình tự, thủ tục đăng ký, cơ quan đăng ký tài sản… sẽ do Luật đăng ký bất động sản quy định.
Thứ tư, Bộ luật dân sự năm 2005 hợp lý hoá các quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản (Điều 168).
Trong quá trình nghiên cứu, xây dựng Bộ luật dân sự năm 2005 cũng có hai loại ý kiến khác nhau về thời điểm chuyển quyền sở hữu và các quyền khác đối với bất động sản. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng nên giữ như quy định của Bộ luật dân sự năm 1995, có nghĩa là coi việc đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của sự chuyển quyền sở hữu và các quyền khác đối với bất động sản (ví dụ như quyền sử dụng đất), vì như vậy tạo sự chặt chẽ trong việc chuyển quyền, góp phần phòng ngừa những tranh chấp có thể nảy sinh. Loại ý kiến thứ hai cho rằng nên quy định đăng ký là điều kiện để đối kháng với người thứ ba, còn quyền sở hữu và các quyền khác đối với bất động sản được chuyển kể từ thời điểm bất động sản được chuyển giao vì chế độ đăng ký quyền sở hữu đối với bất động sản của nước ta hiện nay còn nhiều bất cập: cơ sở pháp lý còn thiếu, Luật về đăng ký bất động sản đang được xây dựng; đối với những tài sản đang áp dụng chế độ đăng ký thì các quy định về trình tự, thủ tục cụ thể cũng chưa đầy đủ, cơ quan đăng ký ở một số địa phương còn thiếu và yếu vì đang trong quá trình được thành lập; nhận thức của người dân về việc đăng ký còn hạn chế. Do đó loại ý kiến này cho rằng nếu quy định đăng ký là điều kiện đối kháng với người thứ ba thì sẽ phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tiễn của nước ta hiện nay.
Thời điểm chuyển quyền sở hữu theo Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2005 đã được thể hiện theo loại ý kiến thứ nhất. Quy định này kế thừa các quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 và phù hợp với một số văn bản pháp luật hiện hành như pháp luật về đất đai: đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của chuyển quyền sở hữu. Tuy nhiên, nguyên tắc này bị loại trừ trong trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thứ năm, Bộ luật dân sự năm 2005 cụ thể hoá nguyên tắc chủ sở hữu phải chịu rủi ro về tài sản (Điều 166). Đây là điều mới bổ sung nhằm khẳng định, về nguyên tắc, chủ sở hữu phải chịu rủi ro khi tài sản bị tiêu huỷ hoặc bị hư hỏng do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Thứ sáu, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định rõ và đầy đủ hơn về các biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích của chủ sở hữu và của người chiếm hữu ngay tình.
Thứ bảy, Bộ luật dân sự năm 2005 cụ thể hoá hơn về cách thức định đoạt tài sản chung (Điều 223). Theo đó, điểm mới trong quy định này là có quy định về hậu quả pháp lý trong trường hợp có sự vi phạm quyền ưu tiên mua. Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Toà án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
Thứ tám, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định cụ thể hơn về việc chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung (Điều 224). Theo đó, trong trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi người đó không có tài sản riêng, hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung để nhận tiền thanh toán và được tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật, hoặc việc chia tài sản bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Thứ chín, Bộ luật dân sự năm 2005 hoàn thiện thêm các quy định về việc xác lập quyền sở hữu trong trường hợp sáp nhập tùy thuộc tài sản sáp nhập là vật chính hay vật phụ, là động sản hay bất động sản để có thể xử lý phù hợp, công bằng, hậu quả pháp lý khác nhau (Điều 236).
Thứ mười, Bộ luật dân sự năm 2005 hoàn thiện thêm cơ chế xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy (Điều 240) và xác lập quyền sở hữu đối với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên (Điều 241). Theo đó có hai điểm được sửa đổi so với Điều 248, Điều 249 Bộ luật dân sự năm 1995 là: (i) Xác định giá trị cụ thể của vật; (ii) Vật được tìm thấy (hoặc vật bị đánh rơi, bị bỏ quên) là cổ vật, là di tích lịch sử, văn hoá… có thể thuộc sở hữu của Nhà nước hoặc thuộc sở hữu của các chủ thể khác.
2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức sở hữu ở Việt Nam
2.1. Các hình thức sở hữu ở Việt Nam.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 ở nước ta có 6 hình thức sở hữu. Hình thức sở hữu toàn dân trong Bộ luật dân sự năm 1995 đã được quy định thành hình thức sở hữu nhà nước. Bổ sung thêm sở hữu của tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp. vì hiện nay đã xuất hiện loại tổ chức này. Hình thức sở hữu hỗn hợp đã được ghép vào sở hữu chung thành một hình thức sở hữu (Điều 217).
2.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu nhà nước.
Tại nội dung này đề tài đánh giá hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý, sử dụng tài sản thuộc sở hữu nhà nước.
– Ưu điểm:
Qua nghiên cứu thực trạng hệ thống pháp luật điều chỉnh đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể rút ra một số ưu điểm như sau:
Thứ nhất, pháp luật hiện hành đã xác định và điều chỉnh được hầu hết các loại tài sản mà Nhà nước nắm giữ.
Thứ hai, pháp luật về sở hữu nhà nước đã được hình thành một cách khá đồng bộ, điều chỉnh toàn diện các vấn đề liên quan đến xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu tài sản thuộc sở hữu nhà nước, gồm:
– Pháp luật điều chỉnh việc xác lập quyền sở hữu nhà nước;
– Pháp luật điều chỉnh trực tiếp quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước, quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân được giao sử dụng tài sản thuộc sở hữu nhà nước;
– Pháp luật quy định các biện pháp bảo vệ, chế tài xử lý đối với các hành vi xâm phạm tài sản thuộc sở hữu nhà nước;
Thứ ba, pháp luật đã quy định các cơ chế điều chỉnh khác nhau theo tính chất từng loại tài sản thuộc sở hữu nhà nước;
Thứ tư, pháp luật hiện hành đã thiết lập được tương đối đầy đủ hệ thống cơ quan thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước đối với các loại tài sản, bảo đảm mọi tài sản của Nhà nước đều có cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng.
– Hạn chế:
Trong những năm gần đây, hệ thống pháp luật điều chỉnh tài sản thuộc sở hữu nhà nước đã được Nhà nước quan tâm, không ngừng hoàn thiện. Tuy nhiên, trong công tác quản lý tài sản nhà nước vẫn còn bộc lộ những yếu kém nhất định như: sử dụng tài sản của Nhà nước không đúng mục đích, hiệu quả thấp, gây lãng phí; việc đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản, trang thiết bị, điều chuyển tài sản chưa tuân thủ định mức, tiêu chuẩn… vẫn diễn ra. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ sự bất cập, hạn chế của hệ thống pháp luật, cụ thể là:
Thứ nhất, hình thức pháp lý của văn bản quy định về việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với vai trò, ý nghĩa của việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06/3/1998 về quản lý và sử dụng tài sản nhà nước).
Thứ hai, việc phân cấp quyền hạn, trách nhiệm của các cấp trong quản lý, sử dụng tài sản còn không rõ ràng, chưa gắn với tăng cường kiểm tra, kiểm soát, có việc còn buông lỏng…
Thứ ba, cơ chế quản lý tài sản trong một số lĩnh vực quan trọng tuy đã được quan tâm nhưng vẫn còn nhiều hạn chế gây thất thoát lớn trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
2.3. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu tập thể.
Tại nội dung này, đề tài đánh giá hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động xác lập, quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản của hợp tác xã. Trong đó, Luật hợp tác xã năm 2003 quy định các nội dung như: xác lập tài sản thuộc sở hữu tập thể; chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu tập thể.
Việc ban hành Luật hợp tác xã năm 2003 thay thế cho Luật hợp tác xã năm 1996 là một bước hoàn thiện rất cơ bản trong chế độ pháp lý về tài sản của hợp tác xã. Tuy nhiên, hiện nay, chế độ pháp lý về sở hữu tập thể vẫn còn có một số hạn chế sau đây:
Thứ nhất, một vài quy định liên quan đến cơ chế định đoạt tài sản của hợp tác xã còn chưa hợp lý, thiếu chặt chẽ, có thể gây bất lợi cho tài sản của hợp tác xã. Ví dụ: bên cạnh những vấn đề quan trọng như sửa đổi Điều lệ, tổ chức lại, giải thể hợp tác xã thì việc quản lý, sử dụng tài sản thuộc sở hữu tập thể của hợp tác xã một cách hợp lý và hiệu quả là vấn đề quyết định sự sống còn của hợp tác xã. Vấn đề này cần phải được quyết định bởi đại đa số (2/3) xã viên biểu quyết tán thành tại Đại hội chứ không thể chỉ quá bán như quy định hiện nay của Luật hợp tác xã năm 2003. Hoặc khi quyết định đối với những khoản chi lớn thuộc sở hữu tập thể trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hợp tác xã cũng như việc thế chấp, cầm cố, hay dùng các biện pháp đảm bảo khác đối với những tài sản của hợp tác xã, thì phải được ít nhất 2/3 tổng số xã viên hoặc đại biểu xã viên có mặt tại Đại hội biểu quyết tán thành. Quy định này sẽ giúp cho đại đa số xã viên được tham gia quyết định và giám sát một cách trực tiếp và sâu sát quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã.
Thứ hai, các quy định về trách nhiệm, nhất là trách nhiệm về tài sản của những người tham gia quản lý hợp tác xã chưa rõ. Điều 27 Luật hợp tác xã năm 2003 quy định về nghĩa vụ của Ban quản trị: chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trước Đại hội xã viên và trước pháp luật và nghĩa vụ của chủ nhịêm hợp tác xã: Chịu trách nhiệm trước Đại hội xã viên và Ban quản trị về công việc được giao. Để bảo đảm hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng tài sản của hợp tác xã, pháp luật điều chỉnh hoạt động của hợp tác xã cần có các quy định cụ thể hơn, thực sự tạo ra cơ chế để từng xã viên tham gia một cách chủ động, tích cực vào quá trình kiểm soát khối tài sản thuộc sở hữu tập thể của hợp tác xã.
2.4. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu tư nhân.
Ở Việt Nam, sở hữu tư nhân được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1992, tại Bộ luật dân sự năm 2005 và các đạo luật khác. Sau đây là một số đặc điểm của chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân ở nước ta:
Thứ nhất, sở hữu tư nhân là sở hữu của một cá nhân (tư nhân ở đây có nghĩa là cá nhân).
Thứ hai, xét về mặt nội dung thì chủ sở hữu tư nhân cũng có 3 quyền năng (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) như các chủ sở hữu khác và chủ sở hữu có toàn quyền quyết định cách ứng xử của mình đối với tài sản thuộc sở hữu của mình với các điều kiện chung đã được Bộ luật dân sự năm 2005 quy định, đó là, (1) không vi phạm pháp luật, thuần phong, mỹ tục; (2) không làm tổn hại đến quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể khác có liên quan. Tuy nhiên, do cá nhân là chủ thể pháp lý có một số đặc trưng khác so với các chủ thể khác (pháp nhân chẳng hạn) nên xét về quyền định đoạt thì chủ sở hữu tư nhân có phạm vi quyền rộng hơn. Ví dụ: chỉ có cá nhân mới có khái niệm chết nên cũng chỉ có cá nhân mới có quyền định đoạt tài sản của mình bằng hình thức di chúc. Như vậy, hình thức định đoạt tài sản của chủ sở hữu tư nhân là cá nhân phong phú hơn so với các hình thức sở hữu khác.
Thứ ba, phương thức thực hiện quyền của chủ sở hữu tư nhân là đơn giản hơn nhiều so với các chủ sở hữu khác.
Thứ tư, phạm vi khách thể (đối tượng) của sở hữu tư nhân là hẹp hơn so với các hình thức sở hữu khác. Ví dụ: theo pháp luật hiện hành của Nhà nước ta thì một số tài sản không thể trở thành đối tượng của quyền sở hữu tư nhân như đất đai (cá nhân, tổ chức ở Việt Nam chỉ có quyền sử dụng đất mà không có quyền sở hữu đất), vũ khí, quân trang, quân dụng và một số hàng hoá khác. Chỉ có Nhà nước với tư cách là một chủ thể pháp lý đặc biệt mới có thể có được các loại tài sản này trong quyền sở hữu của mình.
2.5. Thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với sở hữu chung.
Tại nội dung này, đề tài phân tích các quy định pháp luật điều chỉnh: các dạng cụ thể của sở hữu chung về mặt chủ thể, khách thể và nội dung quyền sở hữu; cơ chế thực hiện quyền sở hữu chung; chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung; chấm dứt sở hữu chung; đặc thù trong việc thực hiện quyền sở hữu chung trong nhà chung cư.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
1. Một số hạn chế cơ bản của pháp luật về sở hữu ở nước ta
Quy định của pháp luật hiện hành về các hình thức sở hữu còn có một số hạn chế cơ bản sau đây:
1.1. Việc xác định các hình thức sở hữu còn chưa hợp lý.
Nhóm nghiên cứu cho rằng, việc đưa ra 6 hình thức sở hữu như trong Bộ luật dân sự năm 2005 là không hợp lý vì cách phân loại này lấy tính chất của các tổ chức làm tiêu chí và vì vậy, sự liệt kê đó là không thể đầy đủ (trong tương lai có thể còn nhiều loại hình tổ chức khác phát sinh). Theo các tác giả, cần phải dựa vào tiêu chí khác để xác định hình thức sở hữu cho phù hợp.
1.2. Tên gọi của hình thức sở hữu nhà nước hiện nay là chưa nhất quán.
Điều 15 Hiến pháp năm 1992 xác định một trong các hình thức sở hữu ở nước ta là sở hữu toàn dân. Điều 7 Luật đất đai năm 2003 quy định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước thống nhất quản lý. Trong khi đó, Bộ luật dân sự năm 2005 lại không nhắc đến hình thức sở hữu toàn dân mà lại dùng tên gọi khác là sở hữu nhà nước. Như vậy đã không có sự nhất quán trong tên gọi của hình thức sở hữu này. Hiến pháp là đạo luật cơ bản có vị trí pháp lý cao nhất. Do đó, sự “vênh” này là không thể chấp nhận được, cần phải có biện pháp để khắc phục càng sớm càng tốt.
1.3. Tên gọi hình thức “sở hữu tập thể” là chưa đúng với bản chất của nó.
Theo Luật hợp tác xã năm 2003, thì hợp tác xã là một tổ chức kinh tế do nhiều người cùng góp vốn, góp sức thành lập để thực hiện tốt hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình, góp phần cải thiện đời sống của từng xã viên. Cũng theo Luật hợp tác xã năm 2003 thì hợp tác xã là pháp nhân có tài sản riêng, được hình thành từ tài sản do xã viên đóng góp và các nguồn tài sản khác. Hợp tác xã có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản này. Như vậy, không phải tất cả xã viên là đồng sở hữu chủ đối với tài sản của hợp tác xã mà chỉ có hợp tác xã với tư cách là pháp nhân mới có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản của hợp tác xã. Vì vậy, về thực chất, sở hữu tập thể trong hợp tác xã là sở hữu của pháp nhân và tên gọi “sở hữu tập thể” là chưa đúng với bản chất của nó.
1.4. Quyền sở hữu của người nước ngoài còn bị hạn chế, không phù hợp với xu hướng hội nhập.
Tại thời điểm nghiên cứu đề tài, các văn bản pháp luật về đất đai, nhà ở chưa có quy định về việc cho người nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Do đó, việc mở rộng hơn nữa quyền được mua nhà ở hợp pháp cho người nước ngoài tại Việt Nam khi nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới là cần thiết trong xu thế chung của thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc mở rộng cho người nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa kinh tế, chính trị, ngoại giao to lớn, đồng thời cũng rất phức tạp và nhạy cảm. Do đó, phải quy định rõ đối tượng và điều kiện được sở hữu nhà ở. Ngoài ra, việc cho phép người nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở cũng cần phải được xử lý bởi văn bản của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền cao nhất ở nước ta là Quốc hội chứ không thể bằng một văn bản dưới luật như một số người đã đề nghị.
1.5. Một số khái niệm khoa học liên quan đến sở hữu, nhất là sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất còn nhiều bất cập. Cụ thể là:
– Chưa làm rõ bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất. Theo các tác giả, quyền sử dụng đất không còn là một quyền năng bình thường mà đã trở thành một loại vật quyền, một quyền sở hữu hạn chế. Tuy nhiên, quan điểm này chưa được thể chế hoá trong Luật đất đai hiện hành.
– Hiện nay trong khoa học pháp lý cũng như trong thực tiễn lập pháp, lập quy, nhiều khái niệm chưa được hiểu một cách chính xác theo đúng bản chất của nó. Ví dụ: có người cho rằng “quyền sử dụng đất là hàng hoá đặc biệt”, có người viết: “thị trường quyền sử dụng đất”… Các tác giả cho rằng, quan niệm như vậy là không chính xác. Chỉ có đất đai mới là hàng hoá vì đất đai mới có giá trị và giá trị sử dụng (là hai thuộc tính cơ bản của hàng hoá). Cũng chỉ có thể có thị trường đất đai (bất động sản) chứ không thể có thị trường quyền sử dụng đất. Vì vậy, cần phải nghiên cứu kỹ để chuẩn hoá các khái niệm này.
1.6. Cơ chế thực thi quyền sở hữu chưa được xác lập đầy đủ.
Quyền sở hữu và cơ chế thực thi quyền sở hữu là hai vấn đề khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Có một hệ thống các quy định về sở hữu đầy đủ, cụ thể, hợp lý nhưng thiếu các biện pháp, phương tiện giúp chủ sở hữu thực thi các quyền hạn của mình thì quyền sở hữu cũng không thể được triển khai và đem lại lợi ích trên thực tế. Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn lập pháp, lập quy hiện hành về quyền sở hữu thì các tác giả cho rằng, trong những năm qua Nhà nước ta đã coi trọng mặt hoạt động thứ nhất, mà coi nhẹ mặt hoạt động thứ hai. Ví dụ, Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật dân sự năm 2005 quy định các vấn đề liên quan đến sở hữu nhà nước (đối tượng, chủ thể, nội dung). Tuy nhiên, nếu chỉ bằng các quy định đó thì quyền sở hữu nhà nước vẫn chưa thể vận hành được trên thực tế, vì Nhà nước là một chủ thể pháp lý phức tạp, bao gồm nhiều loại cơ quan từ Trung ương đến địa phương. Vì vậy, nếu không có sự phân cấp rõ ràng, đầy đủ, hợp lý thì các cơ quan sẽ đùn đẩy trách nhiệm, hoặc sẽ tranh giành lẫn nhau trong việc thực thi các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của Nhà nước. Hậu quả là, một mặt, chúng ta sẽ không khắc phục được tình trạng vô chủ như trước đây; mặt khác, sẽ gây khó khăn cho những chủ thể được Nhà nước giao tài sản để quản lý, sử dụng, định đoạt. Công việc phân cấp này, trên thực tế là chưa được quan tâm. Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995 đã giao Chính phủ quy định chi tiết về vấn đề này nhưng sau gần 10 năm thực hiện Luật, Chính phủ vẫn không ban hành Nghị định hướng dẫn. Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003 cũng đã nhắc lại trách nhiệm này của Chính phủ nhưng cũng phải sau 2 năm, sự phân cấp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản được Nhà nước giao cho các doanh nghiệp nhà nước mới được thực hịên thông qua việc ban hành Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005 của Chính phủ về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước.
Một vấn đề nữa có ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả trong việc sử dụng tài sản nhà nước tại các công ty nhà nước là vấn đề về tên gọi cũng như nội hàm của các quyền mà công ty nhà nước có được đối với tài sản được Nhà nước giao. Quyền này là quyền gì, gọi như thế nào, công ty nhà nước có bao nhiêu quyền, phạm vi từng quyền đối với tài sản được giao… cho đến nay cũng chỉ mới dừng lại ở những quy định chung chung, không rõ ràng, không nhất quán. Theo các tác giả, quyền của công ty nhà nước có được đối với tài sản được Nhà nước giao là một loại vật quyền, tồn tại song song với quyền sở hữu của Nhà nước. Do đó, việc bỏ lửng, ít được quan tâm như vậy của các cơ quan lập pháp, lập quy là một thiếu sót của Nhà nước ta và hậu quả là: tài sản nhà nước hoặc là không được sử dụng có hiệu quả, hoặc bị mất mát, hư hỏng, gây mất lòng tin của nhân dân vào tính ưu việt của sở hữu nhà nước, vào định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nước ta.
2. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về sở hữu
Để có một hệ thống quy định pháp luật về sở hữu có khả năng phúc đáp được các yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới, việc hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này cần phải tuân thủ một số nguyên tắc (quan điểm) cơ bản sau đây:
2.1. Không nên đề cao yếu tố chính trị trong xây dựng pháp luật về sở hữu.
2.2. Quá trình hoàn thiện pháp luật về sở hữu phải là một quá trình thực hiện đồng thời hai việc: vừa hoàn thiện các quy định về sở hữu trong Bộ luật dân sự năm 2005, vừa hoàn thiện các quy định về sở hữu trong các luật chuyên ngành (Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, Luật hợp tác xã năm 2003, Nghị định số 151/2007/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ hợp tác v.v…
2.3. Kết hợp việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu với việc hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền sở hữu.
2.4. Bảo đảm sự không phân biệt đối xử giữa các hình thức sở hữu.
3. Một số kiến nghị cụ thể
Từ thực trạng điều chỉnh pháp luật nêu trên, để đáp ứng yêu cầu mới trong điều kiện tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu cần tập trung vào các nội dung sau đây:
3.1. Cần sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để thay thế hình thức sở hữu toàn dân bằng hình thức sở hữu nhà nước.
3.2. Cần làm rõ tiêu chí để xác định đúng các hình thức sở hữu đang tồn tại ở nước ta.
Hiện nay, chúng ta đang đồng thời dựa vào hai tiêu chí để thực hiện việc phân loại này:
Căn cứ thứ nhất là tính chất chính trị (công hay tư) của việc chiếm hữu tài sản. Chính vì căn cứ vào tiêu chí này nên chúng ta đã chia sở hữu thành sở hữu xã hội chủ nghĩa (với hai hình thức là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể) và sở hữu phi xã hội chủ nghĩa mà sở hữu tư nhân là đại diện chủ yếu.
Căn cứ thứ hai là dựa vào yếu tố ai là người được coi là chủ sở hữu của tài sản. Nếu toàn dân là chủ sở hữu thì có sở hữu toàn dân; nếu tập thể người là chủ sở hữu thì có sở hữu tập thể; nếu hai người trở lên cùng sở hữu một tài sản thì có sở hữu chung; nếu một người (cá nhân) sở hữu thì có sở hữu tư nhân và cuối cùng nếu một tổ chức là chủ sở hữu thì có sở hữu của tổ chức đó (sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội…). Việc phân loại sở hữu như hiện nay không khoa học vì nó được tiến hành trên cơ sở áp dụng một cách đồng thời cả hai tiêu chí nêu trên; và hậu quả là, các hình thức sở hữu ở nước ta được xác định một cách không chuẩn xác, vừa thừa lại vừa thiếu, không phù hợp với thực tiễn khách quan.
Vậy cần phải căn cứ vào tiêu chí gì để phân loại (xác định) các hình thức sở hữu? Theo các tác giả, chỉ nên dùng một yếu tố duy nhất, theo đó, chủ thể nào có quyền trực tiếp chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thì chủ thể đó được coi là chủ sở hữu và căn cứ vào cách thức thực hiện quyền của chủ thể đó đối với tài sản mà xác định tên gọi của hình thức sở hữu cho phù hợp. Ví dụ, khi một cá nhân duy nhất là chủ sở hữu tài sản thì đó là sở hữu cá nhân; khi nhiều người tập hợp lại thành một tổ chức có tư cách pháp nhân (trong đó có hợp tác xã) và chính pháp nhân đó thực hiện các quyền của chủ sở hữu thì đó là sở hữu pháp nhân; khi hai người (cá nhân, tổ chức) trở lên có quyền cùng nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài sản thì đó là sở hữu chung; và khi Nhà nước được trao quyền chủ sở hữu tài sản, mặc dù tài sản đó là của toàn dân, thì đó là sở hữu nhà nước.
Như vậy, theo các tác giả, chỉ có 4 hình thức sở hữu là: sở hữu nhà nước, sở hữu cá nhân, sở hữu pháp nhân và sở hữu chung.
3.3. Cần làm rõ ngoài quyền sở hữu còn có các loại vật quyền khác và mối quan hệ giữa quyền sở hữu với các loại vật quyền khác.
3.4. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về các loại vật quyền khác (quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản).
Cần hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng trong pháp luật cần có quy định rõ ràng về các loại vật quyền (Quyền sở hữu và các loại vật quyền khác đối với tài sản). Theo chúng tôi, có các loại vật quyền sau đây:
– Quyền sở hữu;
– Quyền sử dụng đất (cần có sự nghiên cứu để có thể chia quyền sử dụng đất thành một số các loại quyền sử dụng đất cụ thể để có cơ chế điều chỉnh pháp lý cho phù hợp);
– Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề;
– Quyền của công ty nhà nước và cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp khi các loại cơ quan, đơn vị này được Nhà nước giao tài sản để quản lý, sử dụng;
– Một số các loại quyền khác như cầm cố, thế chấp, quyền thuê dài hạn v.v…
Các loại vật quyền nêu trên đều có chung một số đặc trưng sau đây:
Một là, đều mang tính chất tuyệt đối. Vật quyền là quyền dân sự tuyệt đối. Điều này thể hiện ở chỗ, các chủ thể khác (ngoài chủ sở hữu) đều phải tôn trọng và không vi phạm quyền của chủ sở hữu tài sản. Đây là đặc điểm giúp chúng ta phân biệt vật quyền với trái quyền. Trái quyền là loại quyền dân sự tương đối vì chủ thể của trái quyền luôn luôn được xác định (đối diện với người mua là người bán; đối diện với người cho thuê là người thuê…) và vì vậy, trong quan hệ trái quyền, các chủ thể luôn luôn được xác định, còn trong vật quyền chỉ có một bên được xác định (chủ sở hữu tài sản) còn bên kia là tất cả những người còn lại và không được xác định một cách cụ thể.
Hai là, tất cả các vật quyền đều được luật (văn bản do cơ quan lập pháp ban hành) quy định, các chủ thể của thị trường (chủ thể kinh doanh) không thể tự mình đặt ra các loại vật quyền theo ý muốn của mình.
Ba là, đối với tất cả các loại vật quyền, pháp luật đều đặt ra một số cơ chế pháp lý đặc biệt để bảo vệ, đó là cơ chế “kiện đòi lại vật” và cơ chế “kiện yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở chủ sở hữu thực hiện các quyền năng của mình”.
3.5. Sửa đổi, bổ sung cơ bản cơ chế đăng ký quyền sở hữu và các hình thức vật quyền khác theo hướng đăng ký chỉ có ý nghĩa đối kháng với người thứ ba còn quyền sở hữu tài sản đối với bất động sản được xác lập từ thời điểm tài sản được chuyển giao.
Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2005 và một số văn bản pháp luật hiện hành trong lĩnh vực đất đai, hàng không, hàng hải thì đối với bất động sản, đăng ký là điều kiện làm phát sinh hiệu lực của sự chuyển quyền sở hữu. Để bảo đảm tốt hơn quyền của chủ sở hữu đối với tài sản, cần quy định lại vấn đề này theo hướng: đăng ký là điều kiện để đối kháng với người thứ ba, còn quyền sở hữu và các quyền khác đối với bất động sản được chuyển kể từ thời điểm bất động sản được chuyển giao. Cần phải quy định như vậy vì, chế độ đăng ký quyền sở hữu và các quyền khác đối với bất động sản của nước ta hiện nay còn nhiều bất cập. Đối với những tài sản đang áp dụng chế độ đăng ký thì các quy định về trình tự, thủ tục cụ thể chưa được ban hành đầy đủ; cơ quan đăng ký ở một số địa phương chưa đủ mạnh vì đang trong quá trình được thành lập; nhận thức của người dân về việc đăng ký còn hạn chế. Vì vậy, nếu quy định đăng ký chỉ là điều kiện đối kháng với người thứ ba thì sẽ phù hợp hơn với hoàn cảnh thực tiễn của nước ta hiện nay.
3.6. Cần đổi mới cơ bản cơ chế thực hiện chức năng (quyền) đại diện chủ sở hữu Nhà nước theo hướng thu hẹp và tiến tới không còn chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với công ty nhà nước.
Hiện nay, còn nhiều đầu mối quản lý nhà nước, nhiều cơ quan chỉ đạo, điều hành, hoạch định chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước dẫn đến sự không thống nhất trong tổ chức thực hiện. Quyền chủ sở hữu đối với tài sản nhà nước bị phân tán ở nhiều cấp trung gian nhưng quan hệ phối hợp giữa các cơ quan còn nhiều vấn đề không thống nhất; nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như quyết định nhân sự, quyết định đầu tư, cung cấp tài chính… còn được giao cho nhiều cơ quan thực hiện. Cơ quan đại diện chủ sở hữu lại can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong việc quyết định: chuyển nhượng tài sản, đầu tư vốn vào doanh nghiệp khác, mua cổ phần, thành lập công ty con… Vì vậy, cần đổi mới cơ bản cơ chế thực hiện chức năng (quyền) đại diện chủ sở hữu Nhà nước theo hướng thu hẹp và tiến tới không còn chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với công ty nhà nước.
3.7. Cần tiếp tục củng cố và phát huy vai trò của mô hình Công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp để thay thế chức năng đại diện chủ sở hữu của bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong thời điểm thích hợp.
Vừa qua Nhà nước ta đã thành lập Tổng công ty thực hiện đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước để thực hiện tốt chức năng đầu tư vốn tại doanh nghiệp nhà nước và làm đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các công ty, tổng công ty nhà nước đã cổ phần hoá và các doanh nghiệp nhà nước độc lập chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Nhà nước. Mô hình công ty này hoạt động có hiệu quả sẽ là bước thay đổi quan trọng trong hoạt động quản lý tài sản nhà nước đầu tư vào kinh doanh. Tổng công ty thực hiện đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước theo nguyên tắc: tập trung đầu tư vào các ngành, lĩnh vực then chốt mang tính chiến lược có vai trò động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; chú trọng đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có hiệu quả, có khả năng sinh lời cao; giảm bớt đầu tư vốn với những ngành, lĩnh vực nhà nước không cần chi phối, những ngành, lĩnh vực có khả năng thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác. Hiện nay, Tổng công ty Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước chỉ thực hiện tiếp nhận phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước sau khi đã hoàn thành chuyển đổi, sắp xếp lại doanh nghiệp. Điều này khiến cho quá trình chuyển giao đại diện chủ sở hữu Nhà nước chậm chạp, phụ thuộc vào tiến độ sắp xếp của các bộ, ngành, địa phương. Để thúc đẩy sớm mô hình hoạt động của Tổng công ty Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước thì cần có biện pháp chuyển giao các doanh nghiệp nhà nước cho Tổng công ty này thực hiện sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp và làm đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
3.8. Cần xem xét lại bản chất của sở hữu trong các hợp tác xã, nên coi đó là một dạng cụ thể của sở hữu pháp nhân.
3.9. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích của các xã viên đối với tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã bằng việc bổ sung những quy định sau đây:
– Khi quyết định đối với những khoản chi lớn thuộc sở hữu của hợp tác xã trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hợp tác xã, cũng như việc thế chấp, cầm cố, hay dùng các biện pháp đảm bảo khác đối với những tài sản của hợp tác xã phải được ít nhất 2/3 tổng số xã viên, hoặc đại biểu xã viên có mặt tại Đại hội biểu quyết tán thành. Quy định này sẽ giúp cho đại đa số xã viên được tham gia quyết định và giám sát một cách trực tiếp và sâu sát quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã.
– Quy định rõ mức, cách thức bồi thường các khoản lỗ của hợp tác xã do nguyên nhân chủ quan thuộc trách nhiệm của Ban Quản trị, Chủ nhiệm hợp tác xã và của từng xã viên theo nguyên tắc: tăng cường các biện pháp trách nhiệm vật chất; quyền hạn, lợi ích tương xứng với trách nhiệm trên cơ sở khoán vốn cho các thành viên Ban Quản trị, Chủ nhiệm hợp tác xã và từng xã viên. Có như vậy mới thực sự tạo ra cơ chế bảo vệ quyền của từng xã viên đối với khối tài sản thuộc sở hữu tập thể của hợp tác xã, tiến tới xóa bỏ tình trạng “cha chung không ai khóc” trong các hợp tác xã trước đây.
3.10. Cần làm rõ thực chất của sở hữu tư nhân là sở hữu cá nhân.
3.11. Cần công nhận một cách có điều kiện quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất cho cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.
Như trên đã nêu, việc thừa nhận quyền sở hữu nhà ở cho người nước ngoài đang là vấn đề Nhà nước ta cần quan tâm giải quyết. Theo chúng tôi, việc xử lý vấn đề này có thể được thực hiện bằng một trong hai cách sau:
Một là, sửa Luật đất đai năm 2003 và Luật nhà ở năm 2005;
Hai là, ban hành một Nghị quyết của Quốc hội.
Dù bằng cách nào thì trong các văn bản pháp luật do Quốc hội ban hành cũng phải quy định về hai vấn đề chủ yếu sau đây:
1. Đối tượng được mua và sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam bao gồm những ai;
2. Điều kiện để người nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam bao gồm những gì. Ví dụ:
a) Cá nhân nước ngoài được phép cư trú, hoạt động tại Việt Nam 01 năm liên tục trở lên; phải có các giấy tờ chứng minh thuộc các đối tượng theo quy định của pháp luật được mua và sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam;
b) Cá nhân nước ngoài không là tội phạm quốc tế, không thuộc đối tượng bị truy nã của tổ chức Interpol;
c) Cá nhân nước ngoài phải mua nhà để ở cho bản thân và gia đình phù hợp với nơi làm việc, sinh sống…