Với thị trường vốn, thông điệp này đặt ra một câu hỏi: khung pháp lý đã tương đối đầy đủ, vậy chất lượng vận hành thị trường đang ở đâu? PGS. TS Lê Vũ Nam – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh phân tích những yêu cầu đặt ra đối với thị trường vốn khi trọng tâm cải cách chuyển sang hiệu quả thực thi và kỷ luật thị trường.
PGS. TS. Lê Vũ Nam – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Phóng viên: Nghị quyết số 02/NQ-CP đặt trọng tâm vào nâng cao hiệu quả thực thi, thay vì mở rộng thêm quy định. Với thị trường vốn, cách tiếp cận này cần được hiểu như thế nào trong bối cảnh thị trường chứng khoán hiện nay, thưa ông?
PGS. TS. Lê Vũ Nam: Có thể nói, Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026 là một văn bản quan trọng nhằm thể chế hóa rõ nét Nghị quyết số 66-NQ/TW năm 2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thực thi pháp luật. Trong bối cảnh hiện nay, khi khung pháp lý đối với thị trường chứng khoán đã tương đối đầy đủ và tiệm cận thông lệ quốc tế, vấn đề không còn nằm ở việc có thêm bao nhiêu quy định mới, mà ở cách các quy định hiện hành được vận hành trong thực tế thị trường để ý chí của nhà làm luật được hiện thực hóa. Hiệu quả vận hành, theo cách hiểu này, gắn với khả năng thị trường hoạt động ổn định, có trật tự và tạo được sự tin cậy cho các chủ thể tham gia.
Ở bình diện vận hành, hiệu quả không phải là khái niệm trừu tượng. Hiệu quả vận hành của thị trường chứng khoán có thể được hiểu là mức độ thị trường phân bổ vốn đúng chỗ, trở thành một kênh huy động và điều chuyển vốn đồng bộ, nhịp nhàng; hình thành giá cả và chi phí giao dịch hợp lý; pháp luật được đảm bảo thực thi; công khai, minh bạch và giao dịch thông suốt, an toàn và bảo vệ nhà đầu tư, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một thị trường có thể có khuôn khổ pháp lý tốt, nhưng các quy định của pháp luật chỉ nằm trên văn bản mà không được thực thi hiệu quả trên thực tế thì rất khó đạt được các mục tiêu ban đầu đề ra. Bởi lẽ, thực thi pháp luật là quá trình hoạt động có tổ chức, có quyền lực nhà nước nhằm đưa các quy định của pháp luật vào cuộc sống, bảo đảm pháp luật được tuân thủ, chấp hành, áp dụng thống nhất và hiệu quả trong thực tế.
Ở góc độ tổ chức thị trường, hiệu quả vận hành còn nằm ở khả năng phối hợp nhịp nhàng giữa các cấu phần: niêm yết, công bố thông tin, giao dịch, thanh toán – bù trừ và giám sát. Khi các khâu vận hành đồng bộ, thị trường hạn chế được những điểm nghẽn kỹ thuật có thể làm gián đoạn dòng vốn hoặc tạo tâm lý bất ổn. Đây chính là phần “thực thi” mà Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2026 nhấn mạnh: cải cách không chỉ nằm ở văn bản, mà ở cách hệ thống vận hành trơn tru trong thực tế.
Phóng viên: Theo ông, đâu là những khía cạnh trong vận hành thị trường chứng khoán cần tiếp tục được hoàn thiện để giảm chi phí tuân thủ và nâng cao tính dự đoán cho các chủ thể tham gia thị trường?
PGS. TS. Lê Vũ Nam: Tôi cho rằng, để thị trường chứng khoán Việt Nam vận hành và phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thì chúng ta cần tập trung vào việc giảm chi phí tuân thủ thông qua đơn giản hóa thủ tục, chuẩn hóa áp dụng pháp luật và tăng tính dự đoán của hành vi quản lý nhà nước, thay vì chỉ tiếp tục gia tăng các nghĩa vụ pháp lý mới. Thực tế cho thấy, nếu trước đây khó khăn thường được diễn giải bằng cụm từ “thiếu hành lang pháp lý” thì hiện nay khó khăn trong vận hành của thị trường được xác định là khoảng cách giữa quy định và cách thức triển khai còn khá xa. Trong một số trường hợp, cùng một quy định nhưng cách hiểu và cách áp dụng ở các khâu khác nhau có thể chưa hoàn toàn đồng nhất, khiến các chủ thể tham gia thị trường phải dành thêm thời gian và nguồn lực để thích ứng.
Chi phí tuân thủ vì thế không chỉ đến từ nghĩa vụ pháp lý trực tiếp, mà còn phát sinh từ sự không chắc chắn trong quá trình thực hiện. Khi doanh nghiệp phải phòng ngừa rủi ro pháp lý hoặc điều chỉnh hoạt động theo các cách hiểu khác nhau, nguồn lực bị phân tán và hiệu quả hoạt động bị ảnh hưởng. Đây là điểm rất đặc trưng của vấn đề thực thi: quy định không thay đổi, nhưng nếu cách vận hành thiếu nhất quán thì chi phí tuân thủ vẫn tăng lên.
Khoảng cách giữa quy định và vận hành thường bộc lộ rõ hơn trong những giai đoạn thị trường biến động mạnh hoặc xuất hiện các tình huống mới. Khi đó, nếu cơ chế hướng dẫn, giải thích và tổ chức thực hiện chưa kịp thời hoặc chưa đủ rõ ràng, các chủ thể tham gia thị trường có xu hướng lựa chọn phương án an toàn, làm chậm quá trình ra quyết định đầu tư hoặc huy động vốn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến vai trò dẫn vốn của thị trường chứng khoán.
Ở góc nhìn chính sách, nâng cao hiệu quả thực thi không đồng nghĩa với nới lỏng kỷ luật thị trường. Yêu cầu đặt ra là kỷ luật phải được thực thi trên nền tảng minh bạch và có thể dự đoán, để các chủ thể tham gia thị trường hiểu rõ ranh giới vận hành và tập trung nhiều hơn vào nâng cao chất lượng hoạt động, thay vì xử lý rủi ro thủ tục.
Tóm lại theo tôi, để thị trường chứng khoán vận hành hiệu quả theo hướng tiết giảm chi phí trên cơ sở bảo đảm tính thực thi của pháp luật cần tập trung vào các vấn đề mang tính cốt lõi như: nhất quán trong diễn giải và áp dụng pháp luật, tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tiếp tục đẩy mạnh công khai và minh bạch thông tin và tính thanh khoản của thị trường, nâng cao trách nhiệm và năng lực giải trình của cơ quan quản lý, tăng cường kiểm tra, giám sát và áp dụng quyết liệt các chế tài trên thị trường chứng khoán, đẩy mạnh chuyển đổi số và đặt trọng tâm vào mục tiêu thăng hạng của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Niềm tin của nhà đầu tư hình thành chủ yếu từ trải nghiệm thực tế. Ảnh: ST
Phóng viên: Nghị quyết số 02/NQ-CP nhấn mạnh kỷ luật thực thi, với thị trường chứng khoán, yếu tố này đang tác động như thế nào đến niềm tin của nhà đầu tư, thưa ông?
PGS. TS. Lê Vũ Nam: Niềm tin của nhà đầu tư hình thành chủ yếu từ trải nghiệm thực tế khi tham gia thị trường. Khi thông tin được công bố đầy đủ, kịp thời và các quy định được thực thi một cách nhất quán, nhà đầu tư có cơ sở để đánh giá rủi ro và xây dựng chiến lược đầu tư phù hợp với kế hoạch và chiến lược đầu tư của mình.
Ngược lại, nếu môi trường thực thi thiếu tính dự đoán, thiếu minh bạch nhà đầu tư có xu hướng thận trọng hơn, ưu tiên các quyết định ngắn hạn hoặc phòng thủ. Ở một thị trường vốn đang trong quá trình hoàn thiện như Việt Nam, rủi ro chính sách hoặc rủi ro thực thi nếu bị đánh giá là khó lường sẽ khiến dòng vốn dễ đảo chiều và mang tính ngắn hạn hơn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến thanh khoản, mà còn làm suy giảm vai trò của thị trường chứng khoán như một kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Vì vậy, kỷ luật thị trường cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn việc xử lý vi phạm. Đó là xây dựng một môi trường mà các quy tắc vận hành được áp dụng nhất quán, tạo khả năng dự đoán và hình thành kỳ vọng ổn định cho nhà đầu tư. Khi kỳ vọng ổn định được củng cố, thị trường mới có nền tảng để phát triển theo hướng bền vững và thu hút dòng vốn dài hạn. Tính kỷ luật trên thị trường chứng khoán được bảo đảm bởi sự kết hợp giữa pháp luật chặt chẽ, cơ chế giám sát – thực thi hiệu quả, chế tài nghiêm minh, minh bạch thông tin, cơ chế tự điều chỉnh của thị trường và chuẩn mực đạo đức – văn hóa tuân thủ của các chủ thể tham gia.
Phóng viên: Nhìn về giai đoạn 2026-2030, theo ông, đâu là những cải thiện mang tính nền tảng mà thị trường vốn Việt Nam cần ưu tiên, không chỉ để nâng cao hiệu quả vận hành, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút dòng vốn trung và dài hạn?
PGS TS Lê Vũ Nam: Theo tôi, trong trung và dài hạn, thị trường vốn Việt Nam cần ưu tiên nâng cao chất lượng vận hành hơn là mở rộng nhanh về quy mô. Điều này bao gồm việc củng cố tính nhất quán trong thực thi pháp luật, nâng cao chuẩn mực quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng bảo vệ nhà đầu tư, quyết liệt chuẩn bị cho diện mạo mới của thị trường sau khi được nâng hạn gắn với sự hình thành các trung tâm tài chính quốc tế.
Hiệu quả vận hành trong giai đoạn tới còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của hệ thống trước những thay đổi về quy mô và cấu trúc thị trường. Khi số lượng doanh nghiệp niêm yết tăng lên và sản phẩm trên thị trường ngày càng đa dạng, yêu cầu đối với năng lực tổ chức, giám sát và vận hành cũng cao hơn. Đây là quá trình đòi hỏi sự đầu tư liên tục về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng kỹ thuật.
Từ góc độ cải cách, việc lấy hiệu quả vận hành làm trọng tâm không nhằm tạo áp lực ngắn hạn, mà hướng tới xây dựng một thị trường vận hành ổn định, có khả năng tự điều chỉnh và thích ứng tốt hơn với các chu kỳ kinh tế. Khi nền tảng vận hành đủ chắc, thị trường vốn có thể từng bước cải thiện mức độ tin cậy trong đánh giá của các tổ chức quốc tế, qua đó góp phần cải thiện điều kiện thu hút dòng vốn trung và dài hạn. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 02/NQ-CP. Có thể nói, đã đến lúc thị trường chứng khoán Việt Nam cần một cú hích mang tính đột phá mới tập trung vào hiệu quả vận hành của thị trường, gắn chính sách, pháp luật với thực tiễn sinh động như một yếu tố quan trọng để bảo đảm thị trường nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo đúng như tinh thần mà đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định trong bài diễn văn bế mạc Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là “Không đổi mới, cải cách thì không thể bứt phá, không thể cạnh tranh, không thể phát triển”.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!