(Bài đã biên xong, chẳng biết đặt title là gì, tạm gọi “Lêu lêu, thánh hiền” vậy. Chú ý là có dấu phẩy ở giữa, không phải “Lêu lêu thánh hiền”: tôi chỉ là gõ chơi, làm vui với con chữ, không có ý gây hấn với thánh hiền, mà cốt trình ra cho bạn hữu cùng xem xét cách mà người ta đã tạo ra thánh hiền như nào. Không chuyên về khảo cứu, tôi biết tới đâu trình bày tới đó. Những gì tôi viết đây, không phải chỉ mình tôi là người phát hiện; trước đây, cũng từng có người này người nọ chỉ ra rồi, tôi chẳng qua gom lại, diễn đạt theo lối cà chớn mà thôi. Mong rằng sẽ có dịp gõ tiếp dài dài “Lêu lêu, thần tướng!”, “Lêu lêu, vương bá!”, “Lêu lêu, mỹ nữ!”… He he!) _______
1/. Hạ Vũ 夏禹:
Đại Vũ là một vị thánh, được hưởng quốc tế (lễ cúng tế của cả nước). Tương truyền Vũ vì có công trị thủy nên được vua Thuấn truyền ngôi cho. Đây là thời huyền sử (Vũ sống vào khoảng 2200 Tr.Cn), nên hậu thế tha hồ thêm thắt.
Trong Luận ngữ, Khổng tử chỉ nói là Vũ có công sửa sang ngòi lạch để bớt úng thủy mà thôi (thiên 8). Xuống tới đời Mạnh tử thì lại chém lên thành gió, rằng Vũ đào chín con sông, vét bốn con sông khác cho nước chảy ra biển, luôn tám năm mới xong, ba lần đi qua nhà mình mà không vào (Đằng Văn Công thượng, bài 4). Qua tới sách Lã thị Xuân Thu đời Chiến quốc và Sử ký của Tư Mã Thiên (nhà Hán) thì công cuộc trị thủy của Vũ được nâng level, từ chỗ vét sửa sông rạch thành ra đối phó với nạn đại hồng thủy kinh hoàng, và thời gian từ 8 năm lên thành 13 năm.
Kể từ thời Nam Bắc triều (420-589), Nam triều xây dựng lăng miếu đầu tiên để suy tôn Vũ ở Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang, thì cuộc đời Vũ được góp gió thành bão, đủ thứ chuyện hư cấu thêm vào, đôi tay ông trở nên dày cui vì những cục chai, và đôi chân thì dày đặc những mô sẹo lồi lõm. Buồn cười nhất là suốt 13 năm làm “anh hùng trị thủy”, Vũ ba lần đi ngang nhà mình mà không thèm ghé vào, ấy vậy mà lại có con; người con ấy là Khải (啟) sau này kế vị ông.
Vì chỗ mâu thuẫn đó mà người ta lại phải ngụy tạo nốt cho trọn bộ, rằng Vũ kết hôn mới 4 ngày thì phải đi trị thủy, có lần đi ngang nhà nghe tiếng con trẻ khóc oe oe mà phải cắn răng lầm lũi bước đi. Tới đây thì lại lòi ra chỗ mâu thuẫn khác: cha Vũ là Cổn (鯀) trước đó từng được giao nhiệm vụ trị thủy nhưng không hoàn thành, nên bị vua Thuấn giết, và lệnh cho Vũ thay cha tiếp tục công việc; té ra ông thánh này đang khi cha chết đã kịp cưới vợ và gieo mầm sống trong bụng nàng ta à?
Ngụy tạo trong lịch sử thường khó mà không để lại tỳ vết. Huống chi cái chuyện vợ chồng, con trống đạp con mái là chuyện nhân luân, là hỷ sự trong kiếp người, vậy đó mà bọn hậu sinh nỡ lòng bắt ông thánh xách bửu bối chạy rông nơi sông rạch suốt 13 năm liền không được dùng đến, thiệt thòi cho thánh Vũ biết ngần nào, hỡi ôi!
2/. Khổng tử 孔子 (551-479 Tr.Cn):
Ông thánh này không biết có được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới hay chưa, nhưng ảnh hưởng của ông thật sâu rộng, không chỉ ở Trung Hoa hoặc trong cõi châu Á mà thôi.
Tư Mã Thiên sinh sau khi Khổng tử mất cả 400 năm, lại thêm, trước đó nhà Tần đã từng đốt sách chôn nho, nên khi ông viết tiểu sử Khổng (“Sử ký” – Khổng tử thế gia), đa phần chỉ là chép theo những chuyện truyền khẩu. Như chuyện Khổng tử hai lần đến ra mắt Lão tử, đây thật ra là ngụ ngôn, chỉ Tư Mã Thiên viết, chứ trong sách “Luận ngữ” (do học trò Khổng tử ghi chép lại) không thấy nhắc tới. Rồi chuyện có viên quan đại phu nước Lỗ là Mạnh Ly tử trăn trối, dặn con mình nên đến bái Khổng tử làm thầy, vì Khổng là hậu duệ của thánh nhân: năm đó thánh Khổng nhà ta 17 tuổi!
Khổng tử đề cao chữ “Lễ”, nhưng người đời sau đã đẩy chữ Lễ này đến mức cực đoan. Như khi làm á tướng (đứng thứ nhì trong triều thần, chỉ dưới Tướng quốc) nước Lỗ, chỉ vì không được chia phần thịt trong lễ tế Giao (tế trời) mà bỏ nước Lỗ. Thánh ơi là thánh, ông không biết miếng thịt là miếng nhục ư? Bỏ Lỗ, Khổng qua Vệ, khi cùng đi dạo với Vệ Linh công, Linh công ngồi chung xe đàng trước với nàng thiếp yêu tên Nam tử. Vậy là Khổng tự ái, bỏ nước Vệ mà đi sau khi than thở: “Ta chưa thấy ai hiếu đức bằng hiếu sắc!” Lời nói đó là thừa, he he, cứ thử hỏi bất kỳ anh nào đi: giả dụ đang phóng honda trên đường, nếu có hai người vẫy lại xin quá giang, một là cô siêu người mẫu, còn người kia là thánh tăng trụ trì chùa Thiếu Lâm, hỏi vậy chớ ảnh thích chở ai hơn nè?
Thật ra, những chuyện đó chỉ là do người ta bịa ra để biến Khổng tử thành người khắc khổ, lạt lẽo nhân tình, tôi thích Khổng khi ông tự trào hơn:
Mấy thầy trò thất lạc nhau ngoài kinh đô nước Trịnh. Có người bảo với đám học trò: “Tôi thấy ở cửa phía đông có ông già quái gở, trán giô, cổ cao, vai rộng. Trông ông ta buồn bã chẳng khác con chó nhà có tang” (nguyên văn: Tang gia khuyển 喪家犬). Đám môn đệ vội qua cửa phía đông thì gặp thầy. Tử Cống thuật lời người kia. Khổng Tử nghe xong, cười phá lên: “Ví ta với con chó nhà có đám tang à? Giống lắm! Giống lắm!”
Tuy nhiên, có chỗ mắc mứu là ba chữ kia, mỗi nhà chép một phách, người thì ghi “Tang gia khuyển” (喪家犬), kẻ lại chép thành “Tang gia cẩu” (喪家狗̣̀́̀́́) cẩu hay khuyển gì thì ngày nay đều dùng như nhau, đều là… chó cả, nhưng ngày xưa lại có phân biệt. Sách Nhĩ nhã (爾雅), phần nói về muông thú, giải thích: “Vị thành hào, cẩu” (未成豪,狗), tức chưa mọc đủ lông cứng thì gọi là cẩu. Nói nôm na thì chữ “cẩu” tương tự chữ “cún” của ta, dùng để chỉ con chó con; còn “khuyển” là con chó đã trưởng thành, đã biết… lẹo cái. Nói Khổng tử lúc ấy như “Tang gia cẩu” (喪家狗̣̀́̀́́) con cún nhà có tang) thì đúng hơn: cún con thường ngày được âu yếm yêu chìu, phải khi nhà có tang thì chẳng ai nghĩ đến việc ẵm bồng nó nữa, cái mà cún cần nhất lúc này là bàn tay thân thiết, nhu cầu về tình cảm. Còn như “Tang gia khuyển” (喪家犬) thì lại khác: con chó nhà có tang này đang bụng lép chực xương!
3/. Chu Hy 朱熹 (1130-1200): tự Nguyên Hối, hiệu là Hối Am. Đây là ông thánh đã đẩy lý học của Nho giáo lên thành Tống Nho.
Thánh Chu suốt đời mở miệng nói nhân nghĩa, khuyên mọi người nên giữ gìn “thiên lý” (lẽ trời) và tuyệt nhân dục. Con người này cực đoan đến nỗi cho rằng đạo làm người chỉ có hai lối: một là thành quân tử, hai là làm cầm thú.
Vậy đó, nhưng trong Tống sử, quyển 37, có chép rằng vào năm Khánh Nguyên thứ 2 đời Tống Ninh tôn (1196), Giám sát Ngự sử là Thẩm Kế Tổ đã hặc 10 đại tội của Chu Hy, như: bất kính với vua, bất trung với nước, lấn áp quần thần, bại hoại lễ giáo… Đặc biệt còn hài ra rằng Chu đã rù quến hai ni cô đem về làm hầu thiếp; con dâu của Chu tuy chết chồng nhưng lại có chửa (nhờ… ông già chồng); loạn luân đốn mạt không gì không dám làm. Sau rốt, Thẩm đề nghị chém đầu Chu cho tuyệt nọc loài ngụy quân tử. Trước những lời đanh thép của Thẩm ngự sử, Chu Hy không đường chối cãi, phải dâng biểu tạ tội (Trước đó, Thẩm Kế Tổ cũng đã từng tranh luận vạch mặt Trình Di, thầy Chu Hy).
Và mấy trăm năm sau, khi các triều Minh Thanh lợi dụng Tống Nho, đã đề cao Chu Hy, đưa ông vào Văn miếu để phụng thờ, thì đoạn chép trong “Tống sử” kia bị lờ đi, chẳng còn mấy ai nhắc tới nữa.
Ờ, thờ Chu Hy thì cứ thờ vậy, nhưng xin nhớ cho: Đừng nghe những gì thánh hiền nói, mà hãy nhìn kỹ những gì thánh hiền làm, he he!