Địa chí Đà Lạt

8. THỰC VẬT

8.1 Quần hệ thực vật rừng

Thành phố Đà Lạt có 25.646ha đất lâm nghiệp. Theo quan điểm hệ sinh thái của GSTS Thái Văn Trừng, Đà Lạt có 4 kiểu rừng chính:

– Rừng kín thường xanh mưa ẩm, á nhiệt đới, núi thấp.

– Rừng kín hỗn hợp cây lá rộng – lá kim, ẩm á nhiệt đới, núi thấp.

– Rừng thưa cây lá kim hơi khô, á nhiệt đới, núi thấp.

– Rừng thưa cây lá kim hơi khô, nhiệt đới.

Hai kiểu rừng kín có tác dụng phòng hộ tốt hơn 2 kiểu rừng thưa, nhưng diện tích lại chỉ bằng 1/7 diện tích rừng thưa.

Hai kiểu rừng kín có nhiều loài cây quý hiếm, nhưng số lượng cá thể không đáng kể so với rừng ở các huyện khác trong tỉnh và các tỉnh khác trong nước ta.

Do tác động của con người, các kiểu rừng này biến động, có thể được cải thiện tốt lên, có khi bị thoái hóa hình thành các kiểu phụ thứ sinh hay bị hủy diệt.

8.1.1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm, á nhiệt đới, núi thấp (rừng kín cây lá rộng thường xanh, rừng lá rộng, rừng tạp)

Rừng có hai tầng, không có tầng vượt tán, tầng cao bao gồm các cây họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Chè (Theaceae), họ Mộc Lan (Magnoliaceae) chiếm ưu thế rõ rệt. Cây thường có tầm vóc trung bình cao, 15 – 20m, đường kính 0,40 – 0,60m.

Tầng cây dưới tán không liên tục và có chiều cao khác nhau, bao gồm các cá thể của những loại cây chịu bóng, xen lẫn với cây con của những loài ở tầng trên.

Tầng cây bụi thấp, khá dày gồm có các loài thuộc các họ Rubiaceae, Theaceae, Myrta­ceae, Euphorbiaceae. Trong tầng này còn thấy xuất hiện các loài dương xỉ thân gỗ (Crylthea podophylla, Cibotium barometz dưới tán và Crylthea spimulosa ở rìa rừng). Trong tầng cây bụi thấp nhiều loài tre trúc mọc riêng rẽ từng cây thuộc các chi Arundinaria Phyllostachys, nhiều loài thuộc họ Cọ Dừa (Palmaceae) có thân cao như cau rừng (Pinanga baviensis), móc (Caryota ocflandra). Tầng cỏ gồm có các loài dương xỉ của các chi: Asplenium, Diplazium, Plagiogryria, Polystichum, Tectaria, Angiopteris. Ở rìa rừng xuất hiện một loài guột lá to (Dieranopteris splendida). Những thực vật phụ sinh gồm có nhiều loài dương xỉ thuộc các chi: Trichomanes, Hymenophylum, Vandseboschia, Asplenium, Vittaria, Lemmophyllum, các loài cây trong các họ: Ericaceae, Vacciniaceae, Araliaceae, Apocynaceae. Dây leo có ít hơn thuộc các họ: Gnetaceae, Connaraceae, Asclepidiaceae, Ampelidaceae. Ít cây có bạnh vè, ngay cả trong số các loài có tầm vóc to lớn. Kiểu rừng này có thể thấy ở đèo Prenn.

8.1.2 Rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới, núi thấp (rừng hỗn giao lá rộng, lá kim)

Kiểu rừng này nằm đan xen với kiểu rừng kín cây lá rộng thường xanh, nhưng ở vị trí độ cao lớn hơn.

Cấu trúc của nó cũng như rừng kín cây lá rộng thường xanh, chỉ khác trong thành phần các loại cây xuất hiện thêm các cây trong lớp hạt trần, có lá rộng hơn lá kim như: thông tre (Podocarpaceae), ngo tùng (Keteleeria).

Những loại cây có giá trị hiện còn ở kiểu rừng này:

Keteleeria davidiana Beissner: Ngo tùng.

Pinus dalatensis Ferré: Thông 5 lá.

Libocedrus macrolepis Benth.: Bách xanh.

Taxus baccata var. wallichiana (Zuce) Hooks: Thông đỏ.

Dacrydium pierrei Hikel: Hồng tùng

Podocarpus wallichianus C. Prel.: Kim giao

Podocarpus imbricatus Bulusne: Bạch tùng

Ngay trên đường Lý Tự Trọng, Phan Bội Châu, có thể bắt gặp cây bách xanh, ngo tùng.

Hai kiểu rừng kín thường xanh này còn 2.057 ha chiếm 7,11% diện tích, có tác dụng tốt cho phòng hộ môi trường, phân bố rải rác ở các đỉnh núi cao và ven khe dốc hiểm trở: Prenn, Datanla, hồ Tuyền Lâm, Cam Ly, xã Xuân Trường, Xuân Thọ, Tà Nung.

Tùy theo mức độ xuống cấp, hai kiểu rừng này được chia thành các trạng thái sau:

Rừng giàu có diện tích nhỏ (44 ha), đã bị khai thác một phần nhỏ, cấu trúc vẫn còn hai tầng đặc trưng, đường kính cây gỗ > 35cm.

Rừng trung bình có 1.190,83 ha, chiếm 4,11% diện tích, trữ lượng 179,815m3, bị khai thác vừa phải, độ tàn che của rừng 0,5 – 0,7%, độ che phủ thảm tươi 30 – 50%. Tái sinh tự nhiên dưới tán rừng gồm các loài: dẻ, trâm,… Mật độ tái sinh 2.000 – 5.000 cây/ha, khả năng phục hồi có nhiều triển vọng.

Rừng nghèo có 161,04 ha, chiếm 0,55% diện tích. Loại rừng này đã bị tàn phá mạnh, kết cấu nhiều tầng, chủ yếu là tầng cây gỗ nhỏ và thảm tươi. Cây gỗ lớn rải rác, chất lượng xấu có các loài dẻ, giỗi, xoan đào, chò xót, trâm,… Tầng cây gỗ nhỏ có các loài cóc, dẻ, truỗng, trâm,… Tầng cây bụi thảm tươi có các loài lá nến, thẩu tấu,… Độ che tán rừng 2,2-0,4%, độ che phủ của thảm tươi 50 – 70%. Tái sinh tự nhiên dưới tán rừng gồm các loài dẻ, trâm, trường, giổi,… Mật độ: 500 – 1.000 cây/ha. Nếu được bảo vệ tốt, khả năng phục hồi rừng có nhiều triển vọng.

Rừng non có trữ lượng có 555,38 ha. Đây là trạng thái phục hồi sau khai thác kiệt bao gồm những quần thụ non với những loài tương đối ưa sáng, thành phần loài phức tạp không đều tuổi. Vượt lên tán rừng kiểu này có thể còn sót lại một số cây của quần thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể.

Rừng non chưa có trữ lượng có 106,04ha. Đây là trạng thái phục hồi rừng sau nương rẫy, đặc trưng là lớp cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, đều tuổi, một tầng.

Các trạng thái rừng lá rộng hỗn giao với tre nứa, rừng tre nứa, đặc trưng bởi loài le và lồ ô nhỏ, thường phân bố ở ven khe, có diện tích nhỏ (67,37ha), lá kiểu phụ thứ sinh nhân tác (do con người chặt phá) của hai kiểu rừng kín thường xanh.

8.1.3 Rừng thưa cây lá kim, hơi khô, á nhiệt đới, núi thấp (rừng thông Đà Lạt)

Loài cây chủ yếu là thông 3 lá (Pinus kesiya Royle ex Gordon), có diện tích 14.628ha, chiếm 50,6% diện tích rừng và đất rừng.

Thông 3 lá chủ yếu cho gỗ, cây có đường kính nhỏ, tỉa thưa dùng làm bột giấy; cây có đường kính lớn được dùng trong xây dựng và làm đồ gia dụng.

Trong 4 kiểu rừng, rừng thông 3 lá chiếm vị trí đáng kể nhất, vừa phòng hộ cho các con sông lớn, bảo vệ các hồ đập, thủy lợi, thủy điện, tôn tạo cho các danh thắng, phục vụ du lịch – nghỉ dưỡng.

Rừng thông 3 lá có thể thay thế cho 3 kiểu rừng kia nếu bị chặt phá. Cấu trúc của nó vừa ổn định, bền vững, vừa có xu thế trở lên rừng nguyên sinh hỗn giao lá rộng, lá kim.