– Phóng viên: Cách nay chừng 8 thập niên, Ứng hoè Nguyễn Văn Tố đã làm công việc “phiên dịch và so sánh sử liệu nguyên cấp” để có được các tuyển tập là “Đại Nam dật sự” và “Sử ta so với sử Tàu”, mang đến cái nhìn chân thực hơn về lịch sử nước nhà. Nay với “Việt Kiệu Thư”, anh cũng đồng thời phải làm trước việc khảo cứu, hiệu đính từ hai bản dịch Việt Kiệu Thư lưu hành ở Trung Quốc và Nhật Bản để cho ra một bản tương đối chính xác rồi mới dịch ra tiếng Việt?
–Dịch giả Châu Hải Đường: Vâng. Trước hết phải nói rằng, lịch sử hay bất cứ vấn đề gì cũng đều nên được nhìn từ hai phía, thậm chí nhiều phía, thì mới có thể thấy được các góc khuất khi ta chỉ nhìn từ một phía nào đó. Trước đây, cha ông chúng ta đã luôn đọc rất kỹ các bộ sử của phương bắc, và chính nhờ đó, mà trong nhiều trường hợp cha ông ta đã có được căn cứ từ chính ghi chép của họ để bảo vệ lãnh thổ của mình.
Về tác phẩm Việt Kiệu Thư, có thể nói đó là một tác phẩm biên chép về lịch sử địa lý Việt Nam xưa từ nhiều nguồn tư liệu, tương đối công phu của Lý Văn Phượng – một quan viên triều đình – trong bối cảnh triều đình nhà Minh đang thu thập các thông tin mọi mặt về đất nước, con người, lịch sử An Nam để phục vụ cho quyết sách ứng đối trước cuộc tranh giành Lê-Mạc ở nước ta khi ấy.
Có lẽ chúng ta, nếu ai hay tìm đọc những bài viết, công trình nghiên cứu về lịch sử Trung đại Việt Nam, thì chắc hẳn đã nhiều lần thấy tên sách Việt Kiệu Thư được nhắc đến ở chỗ này hay chỗ khác, nhưng thực sự chưa ai – chính như bản thân tôi chẳng hạn – từng được thấy, được đọc bản dịch đầy đủ tác phẩm này.
Cách đây khá lâu, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi từng có bài viết: “Việt Kiệu thư trong mắt giới sử học trong nước”, qua đó ông đánh giá cao ý nghĩa của quyển sách đối với một người nghiên cứu lịch sử Việt Nam, vì vậy, tôi càng mong muốn, sẽ tìm thấy văn bản đầy đủ của cuốn sách, và nếu chưa ai làm việc dịch trọn vẹn tác phẩm ấy, thì mình sẽ làm.
Sau khi có được bản chép được coi là ổn nhất của Trung Quốc mà năm 1996 Tề Lỗ thư xã đã dùng để in ảnh ấn trong bộ “Tứ khố toàn thư Tồn mục tùng thư”, tôi đã bắt tay vào thực hiện việc biên dịch, tuy nhiên, đúng như những nhận định của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước khi nói về Việt Kiệu Thư, đó là: tác phẩm này còn nhiều sai sót từ chữ nghĩa tới nội dung, vì cho đến ngay tại Trung Quốc nó cũng chỉ được lưu truyền qua các bản chép tay, chứ chưa được san khắc. Tôi phải tạm gác lại để nghiên cứu thêm, vì thấy, nếu cứ “có sao dịch vậy” thì sự sai sót sẽ chỉ chồng thêm sai sót mà thôi.
May mắn, sau này tôi tiếp cận được thêm bộ Việt Kiệu Thư được lưu ở Thư viện tư liệu quốc gia Nhật Bản, cũng là bản sao chép viết tay, và khảo cứu qua thì cũng tồn tại rất nhiều sai sót. Dẫu vậy, khi đối chiếu hai văn bản với nhau, tôi thấy cũng có những chỗ chúng bổ sung được cho nhau, nếu như lại bỏ công khảo đính những chỗ sai sót chung còn lại của cả hai bản, thì vẫn khả dĩ cho chúng ta được một bản Việt Kiệu Thư tương đối chính xác.