Minh Mục Tông (chữ Hán: 明穆宗, 4 tháng 3, 1537 – 5 tháng 7, 1572), là Hoàng đế thứ 13 của Nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Trị vì từ năm 1567 đến năm 1572, tổng cộng 6 năm. Trong suốt thời gian trị vì, ông chỉ dùng niên hiệu Long Khánh (隆慶), nên thường được gọi là Long Khánh đế (隆慶帝)
Tuy chỉ trị vì trong 6 năm, nhưng Long Khánh Đế được xem là một trong những Hoàng đế chăm chỉ và thông thoáng nhất triều Minh. Thời kỳ của ông tiếp tục thiết lập trật tự xã hội ổn định, kinh tế phát triển hưng khởi, tiếp nối thành tựu từ thời Gia Tĩnh trung hưng, vì thế sử sách xưng gọi Long Khánh tân chính (隆慶新政).
Tiểu sử
Mục Tông hoàng đế tên thật là Chu Tái Hậu (朱載垕), sinh vào ngày 4 tháng 3, năm 1537 tại Tử Cấm Thành, Bắc kinh. Ông là con trai thứ 3 của Minh Thế Tông, mẹ là Khang phi Đỗ thị.
Năm 1539, khi vừa lên 2 tuổi, ông được phong làm Dụ vương (裕王). Đến năm 1549, anh trai ông là Trang Kính Thái tử qua đời, Dụ vương Chu Tái Hậu vì thế được lập làm Hoàng thái tử kế vị.
Năm 1567, Minh Thế Tông băng hà, Thái tử Chu Tái Hậu lên ngôi, lấy niên hiệu Long Khánh (隆慶), mở đầu thời đại Long Khánh tân chính (隆慶新政).
Long Khánh tân chính
Đế quốc Trung Hoa được Mục Tông hoàng đế thừa hưởng đầy những xáo trộn gây ra bởi sự quản lý tồi và nạn tham nhũng. Để chấn chỉnh sự hỗn loạn do cha mình gây ra trong suốt một thời gian dài, Long Khánh đã thực hiện việc cải cách triều chính bằng cách sử dụng một loạt các quan lại có tài như Từ Giai, Cao Củng, Trần Dĩ Cần, Trương Cư Chính.

Thả Hải Thụy và 32 quan lại bị khép tội triều trước, đồng thời bỏ tù Đạo sĩ Vương Kim, một sủng thần của cha mình. Bên cạnh đó, ông chủ trương nối lại quan hệ ngoại giao với các quốc gia châu Âu, châu Phi (?), giảng hòa với Mông Cổ. Nhằm tăng cường an ninh biên giới trên đất liền và trên biển, ông đã bổ nhiệm những tướng lĩnh có tài như Du Đại Du, Thích Kế Quang trấn thủ vùng cảng biển Triết Giang và Phúc Kiến, ngăn chặn nạn cướp biển từ Nhật Bản (Oa khấu), vốn hoành hành một thời gian dài từ thời Minh Thế Tông.
Qua đời
Năm 1572, ngày 5 tháng 7, Long Khánh Đế băng hà, thọ 35 tuổi. Trước khi qua đời, Long Khánh Đế đã di mệnh lại cho đại thần Trương Cư Chính phò tá cho đứa con trai thứ mới 10 tuổi của mình là Chu Dực Quân (朱翊鈞) lên kế vị, tức Minh Thần Tông Vạn Lịch hoàng đế.
Hoàng đế Long Khánh được tôn miếu hiệu là Mục Tông (穆宗), thụy hiệu là Khế Thiên Long Đạo Uyên Ý Khoan Nhân Hiển Văn Quang Vũ Thuần Đức Hoằng Hiếu Trang hoàng đế (契天隆道淵懿寬仁顯文光武純德弘孝莊皇帝), gọi tắt là Mục Tông Trang hoàng đế (穆宗莊皇帝). Ông được chôn cất tại Chiêu lăng (昭陵).
Gia quyến
Thân phụ: Thế Tông Túc hoàng đế Chu Hậu Thông.
Thân mẫu: Hiếu Khác hoàng hậu Đỗ thị (孝恪皇后杜氏, 1510 – 1554), người ở Đại Hưng, là phi tần của Thế Tông với sơ phong là Khang phi (康妃). Sau khi qua đời, được truy tôn là Vinh Thục Khang phi (荣淑康妃). Đến khi Mục Tông kế vị, mới được truy tặng Hoàng hậu.
Hậu phi:
- Hiếu Ý Trang hoàng hậu Lý thị (孝懿皇后李氏, ? – 1558), người Xương Bình, cha là Lý Minh (李铭). Chính thất vương phi khi chưa đăng cơ, qua đời trước khi Mục Tông lên ngôi. Sinh ra Hiến Hoài Thái tử, Tĩnh Điệu vương Chu Dực Linh và Bồng Lai công chúa.
- Hiếu An hoàng hậu Trần thị (孝安皇后陈氏, ? – 1596), người Thông Châu, cha là Cẩm y vệ Cố An bá Trần Cảnh Hành (固安伯陳景行). Thời Minh Thần Tông, được tôn làm Nhân Thánh hoàng thái hậu (仁圣皇太后). Không có con.
- Hiếu Định hoàng hậu Lý thị (孝定皇后, 1540 – 1612), người Thông Châu, cha là Vũ Thanh bá Lý Vỹ Phong (武清伯李伟封). Bà vào cung được phong Quý phi, sinh ra Minh Thần Tông, tôn phong làm Từ Thánh hoàng thái hậu (慈圣皇太后).
- Tần Thục phi (秦淑妃).
- Lưu Trang phi (劉莊妃).
- Lý Đức phi (李德妃, ? – 1632).
- Vương Vinh phi (王榮妃, ? – 1580).
- Đổng Đoan phi (董端妃).
- Trang Kính phi (莊敬妃).
- Lý Cung phi (李恭妃).
- Hứa Anh phi (許英妃).
- Tiền An phi (錢安妃).
Hoàng tử
- Hiến Hoài Thái tử [宪怀太子, 1555 – 1559], mẹ là Hiếu Ý Trang hoàng hậu.
- Chu Dực Linh [朱翊鈴, 1566], mẹ là Hiếu Ý Trang hoàng hậu. Thụy là Tĩnh Điệu vương (靖悼王).
- Chu Dực Quân [朱翊鈞], tức Thần Tông Hiển hoàng đế (神宗顯皇帝), mẹ là Hiếu Định hoàng hậu.
- Chu Dực Lưu [朱翊镠, 1568 – 1614], mẹ là Hiếu Định hoàng hậu. Năm 4 tuổi tấn phong Lộ vương (潞王). Chết cùng lúc với Hiếu Định Thái hậu, được thụy phong Lộ Giản vương (潞简王).
Hoàng nữ
- Bồng Lai công chúa [蓬莱公主, 1557], mẹ là Hiếu Ý Trang hoàng hậu.
- Thái Hòa công chúa [太和公主, ? – 1560], mẹ là Hiếu Định hoàng hậu.
- Thọ Dương công chúa [寿阳公主, 1565 – 1590], mẹ là Hiếu Định hoàng hậu. Hạ giá lấy Hầu Củng Thần (侯拱辰).
- Vĩnh Ninh công chúa [永宁公主, 1567 – 1594], mẹ là Hiếu Định hoàng hậu. Hạ giá lấy Lương Bang Thụy (梁邦瑞).
- Thụy An công chúa [瑞安公主, 1573 – 1629], mẹ là Hiếu Định hoàng hậu. Hạ giá lấy Vạn Vĩ (萬煒).
- Diên Khánh công chúa [延庆公主, ? – 1600], mẹ không rõ. Hạ giá lấy Vương Bỉnh (王昺).
- Tê Hà công chúa [棲霞公主, 1571 – 1572], mẹ là Thục phi Tần thị.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Minh_M%E1%BB%A5c_T%C3%B4ng
Những vị vua chết sớm vì lạm dụng thuốc kích dục
Vua Minh Thế Tông rất sùng bái phương thuốc xuân dược bởi nó giúp tăng khả năng phòng the, song chỉ sau 9 năm nhà vua băng hà do ngộ độc thuốc dẫn đến xơ gan chướng bụng rồi qua đời.
Những vị vua chết sớm vì lạm dụng thuốc kích dục Hoàng đế Minh Thế Tông và Minh Mục Tông. Ảnh: Health Sina.
Theo Health Sina, hầu hết vua Trung Quốc phải dùng đến những phương thuốc “xuân dược” mới đủ sức hưởng thụ hết số cung tần mỹ nữ trong tam cung lục viện. Đó chính là các loại thuốc tăng cường ham muốn cũng như khả năng cương dương. Một mặt, nó giúp người đàn ông trở thành “đại tướng quân” trong chốn phòng the, song mặt khác cũng rút cạn sức lực và gây ra nhiều hệ lụy về sức khỏe nếu lạm dụng. Loại thuốc này vô tình trở thành nguyên nhân giảm thọ, khiến nhiều vì vua băng hà sớm.
Sử sách Trung Hoa ghi chép rằng: Biết thuốc có hai mặt nhưng vì không muốn bỏ phí hàng nghìn mỹ nữ trong cung, nhiều ông vua tuy đã suy yếu vì tình dục quá độ vẫn cố dùng thuốc để đêm đêm hành lạc, từ đó dẫn đến suy kiệt sức lực và qua đời sớm. Câu chuyện hai cha con vua nhà Minh là Minh Thế Tông và Minh Mục Tông cùng mắc bệnh gan rồi qua đời vì lạm dụng xuân dược là một ví dụ điển hình.
Người xưa kể rằng hai cha con hoàng đế nhà Minh đều rất sùng bái xuân dược và ưu ái trọng thưởng những y nhân luyện thuốc, dâng thuốc. Y sư Đào Trọng Văn nhờ dâng loại thuốc quý giúp vua Minh Thế Tông trở thành “anh hùng trong chuyện ấy” mà được trọng dụng làm giám sát ngự y viện. Phương thuốc kích dục của y sư họ Đào rất hiệu nghiệm, biến ông vua ở tuổi ngũ tuần bỗng trở nên đầy bản lĩnh, có thể mây mưa liên tục với các cung tần mỹ nữ cả ngày lẫn đêm.
Muốn giữ mãi “phong độ” như thế nên hoàng đế liên tục dùng xuân dược với công dụng chính là cường dương, tăng bản lĩnh đàn ông. Bao nhiêu tinh huyết ở tuổi xế chiều nhà vui bị vắt kiệt vào những cuộc mây mưa. Chỉ 9 năm sau khi gặp được “thần y” họ Đào nhà vua đã băng hà do ngộ độc xuân dược. Biểu hiện của chứng này là vàng da, vàng mắt, bụng to, dân gian gọi là xơ gan cổ chướng. Về sau, các thầy thuốc lý giải rằng vua Minh Thế Tông cuối đời bị suy kiệt do dùng quá liều thuốc xuân dược trong suốt thời gian dài.
Sau khi vua Thế Tông qua đời, con trai là Minh Mục Tông thừa kế ngai vàng, cũng thừa hưởng luôn cả tính hoang dâm của cha cùng với phương thuốc xuân dược trên. Vì lạm dụng xuân dược sớm hơn phụ vương nên Mục Tông cũng ra đi sớm hơn cha. Chỉ sau 6 năm ngồi trên ngai vàng, ông đã chết yểu vì chứng bệnh xơ gan y như cha mình. Vị hoàng đế này hưởng dương 36 tuổi.
Tương truyền, phương thuốc mà hai cha con vua Minh sử dụng rất kỳ quái. Vị thuốc quan trọng nhất mà thầy thuốc họ Đào kê là hồng diên, chính là máu kinh nguyệt của nữ nhi. Y sư này cho rằng, hồng diên của các trinh nữ khỏe mạnh, nhất là những cô gái xuất hiện “đèn đỏ” lần đầu tiên là công hiệu nhất. Nó được bào chế cùng với lưu huỳnh rồi luyện thành các viên đan dâng lên cho vua dùng. Chính vì thứ thuốc quái đản này mà Minh Mục Tông đã nhiều lần ra lệnh tuyển chọn hàng trăm nữ nhi sắp đến tuổi dậy thì tiến cung trao cho Hồng Diên để phục vụ cho việc luyện xuân dược.
http://thanhtra.com.vn/xa-hoi/y-te/nhung-vi-vua-chet-som-vi-lam-dung-thuoc-kich-duc_t114c9n105019
