Góc Nhìn Tâm Lý Học

15780969_1565033253512656_7818704550173146566_n.jpg Tề Hoàn Công (715 TCN – 643 TCN), tên thật là Khương Tiểu Bạch, là vị vua thứ 15 của nước Tề, ông là người đứng đầu trong “Xuân Thu Ngũ Bá” (5 nước hùng mạnh thời kỳ Xuân Thu), một nhà chính trị xuất sắc. Tề Hoàn Công đã kêu gọi các nước chư hầu kết liên minh, 9 lần họp chư hầu, về sau trở thành bá chủ đầu tiên của đất Trung Nguyên.

Để làm được những kỳ công ấy, không thể không nhắc đến những người đã phò tá cho Tề Hoàn Công mà đặc biệt ở đây nổi lên vai trò của Quản Trọng. Phải lưu ý một điểm là Quản từng là kẻ thù của Tề Hoàn Công, thậm chí từng bắn Tề Hoàn Công một mũi tên khiến ông phải giả chết mới thoát được. Tề Hoàn Công với nhãn quan quản trị sáng suốt hơn người đã bỏ qua hằn thù cá nhân, trọng dụng Quản Trọng từ đó trong 10 năm mà giúp được nước Tề trở nên cường thịnh. Phong cách lãnh đạo của Tề Hoàn Công rất giống với phong cách lãnh đạo tự do, 1 trong 3 phong cách lãnh đạo mà nhà tâm lý học Kurt Lewin và cộng sự đã xác định vào năm 1939 thông qua thực nghiệm khoa học về ra quyết định. Việc phân loại 3 phong cách lãnh đạo này đặc biệt dựa trên việc ra quyết định quản trị. Ở bài viết này, hãy cùng phân tích phong cách lãnh đạo tự do của Tề Hoàn Công thông qua những khảo cứu và nhận định lịch sử.

Theo định nghĩa thì Phong cách lãnh đạo tự do là phong cách mà theo đó người lãnh đạo rất ít sử dụng quyền lực để tác động đến người dưới quyền, thậm chí không có những tác động đến họ. Nhà lãnh đạo thường chỉ giao nhiệm vụ hoặc vạch ra kế hoạch chung chứ ít tham gia trực tiếp chỉ đạo công việc.

Phong cách lãnh đạo tự do bao gồm các đặc điểm:

  • Nhân viên tự thiết lập mục tiêu và thời hạn của riêng mình,
  • Nhân viên tự tìm cách tối ưu đảm bảo hoàn thành công việc
  • Nhân viên được quyền ra quyết định nhưng nhà lãnh đạo vẫn chịu trách nhiệm đối với những quyết định được đưa ra đó.
  • Nhà lãnh đạo thường chỉ giao nhiệm vụ hoặc vạch ra kế hoạch chung chứ ít tham gia trực tiếp chỉ đạo công việc.

Tề Hoàn Công gọi Quản Trọng là Trọng phụ, đây là một vinh dự cực lớn mà vị quân chủ đối với thần tử, “phụ” ý nghĩa là bậc trưởng bối đáng được tôn kính, vị trí chỉ đứng sau phụ thân.

Học giả Nguyễn Hiến Lê từng bàn trong cuốn Lão tử – Đạo Đức kinh do ông dịch: “Tề Hoàn công cũng nhờ Quản Trọng, một người hiền trẻ nghèo khổ, bán dầu, mà lập nghiệp bá, Quản Trọng lại đề cử mấy người hiền nữa như Ninh Thích, một người chăn bò… Hoàn công đều trọng đãi hết.”

Sách Đông Chu Liệt Quốc của tác giả Phùng Mộng Long ở hồi thứ 16 có đoạn: “Từ đó công việc triều chính đều phó thác cho Quản di-ngô, lại gọi Quản di-ngô bằng Trọng-phụ. Hễ có việc gì lớn, đều hỏi ý kiến Quản di-ngô trước. Tề hoàn-công lại cấm người trong nước không được gọi Quản di-Ngô, mà chỉ gọi là Quản-Trọng. Vì Trọng là tên chữ, còn Di-Ngô là tên tộc.” Đến hồi thứ 17 lại có đoạn:

“Thụ-điêu và Dịch-nha không ưa Quản-trọng, nay thấy mình được vua tin dùng, bèn tâu với Tề hoàn-công : – Tâu Chúa-công, chúng tôi thiết tưởng quyền hạn vua tôi có giới hạn, nay mỗi mỗi Chúa-công đều giao cho Quản-trọng, tựa hồ như nước Tề không còn có vua. Tề hoàn-công vừa cười vừa nói : – Ta đối với Trọng-phụ chẳng khác nào như thân thể đối với tay chân nếu tay chân mà mất, thân thể bị tàn phế, có dùng được việc gì? Chúng bây là tiểu-nhân biết gì mà nói. Thụ-điêu và Dịch-nha từ đó không dám nói nữa.”

Sử ký Tư Mã Thiên phần Bình Chuẩn Thư có đoạn: “Tề Hoàn Công dùng mưu của Quản Trọng hiểu cái phép nặng nhẹ tìm cách lấy lợi ở núi và ở sông, làm cho chư hầu phải thần phục, khiến nước Tề nhỏ bé nổi tiếng làm nên nghiệp bá.”

Như vậy, ta có thể thấy Tề Hoàn Công lãnh đạo bằng cách giao quyền, giao nhiệm vụ, tôn trọng và tin tưởng tuyệt đối vào lòng trung thành và năng lực làm việc của cấp dưới. Đồng thời với tư cách Quốc Quân nước Tề, ông vẫn sẵn sàng chịu trách nhiệm về mọi việc. Đây là những nét điển hình cho phong cách lãnh đạo tự do.

Phong cách lãnh đạo tự do được sử dụng khi nhân viên năng động và có năng lực, nhân viên có khả năng phân tích tình huống và xác định những gì cần làm và làm như thế nào. Đồng thời nhà lãnh đạo nên có những công cụ tốt để kiểm soát tiến độ công việc của nhân viên.

Bản thân Quản Trọng cũng có những cái nhìn rất sâu sắc về thuật dùng người. Trong sách Quản Tử (Tương truyền do ông là tác giả) có chép ý kiến của ông về chủ đề này:

“Kế một năm, chi bằng trồng lúa, Kế 10 năm, chi bằng trồng cây. Kế trọn đời, chi bằng trồng người, Trồng một, gặt một, ấy là lúa. Trồng một, gặt mười, ấy là cây, Trồng một, gặt trăm, ấy là người.”

Trong Đông Chu Liệt Quốc hồi thứ 16, tác giả Phùng Mộng Long chép lời Quản Trọng nói với Tề Hoàn Công: “Không biết người hiền là hại. Biết người hiền mà không dùng là hại. Dùng người hiền mà không dám phú thác việc lớn là hại . Phú chác việc lớn mà để kẻ tiểu nhơn xen vào là hại.”

Khổng Tử khi nói về Quản Trọng đã bày tỏ thái độ rất ngưỡng mộ: “Quản Trọng giúp Hoàn Công làm bá chư hầu, bình định được thiên hạ. Dân tới nay còn mang ơn ông. Nếu không có ông thì chúng ta đã thành mọi rợ, đầu róc tóc, áo gài nút bên trái hết rồi.”

Còn Nguyễn Du từng cảm tác về ông trong một lần đi sứ nhà Thanh qua bài thơ “Đài Tam Qui Quản Trọng”:

Dấu xưa chôn lấp cỏ xanh rì, Từng giúp Hoàn Công nghiệp một thì. Quận huyện đã từng phen Cửu Hợp, Đài rêu ghi rõ chữ Tam Qui. Tại triều khéo hợp lòng vua đó, Nghiệp tướng xem thường lúc chết đi. Mừng được thánh triều chung thiên hạ, Dưới đài qua lại khách Hoa, Di.

Trên đây đủ cho ta thấy thái độ sẵn sàng, tư tưởng chủ động trước những giao phó từ cấp trên cũng như tài năng kiệt suất của Quản Trọng.

Một vị minh quân độ lượng khoan hòa, có nhãn quan nhìn ra người phi thường trong hình dung một kẻ tầm thường, một bề tôi tài giỏi, trung thành tận tụy, và luôn ở thế sẵn sàng trước mọi trách nhiệm, vì thế khi Tề Hoàn Công dùng phong cách lãnh đạo tự do với Quản Trọng thì đã đạt hiệu quả tối đa.

Trên thực tế, không có một phong cách lãnh đạo nào là hoàn hảo nhất. Bởi vì lãnh đạo thành công hay không còn tùy thuộc vào tình huống. Tình huống lại đặc trưng bởi đặc điểm cấp dưới, đặc điểm công việc, đặc điểm môi trường cạnh tranh và kinh doanh nói chung, quyền lực mà nhà lãnh đạo nắm giữ,…Nhà lãnh đạo thành công phải là người có dạng hành vi lãnh đạo phù hợp với tình huống. Điều đó cũng có nghĩa là nhà lãnh đạo cần có khả năng sử dụng linh hoạt các dạng hành vi lãnh đạo khác nhau cho phù hợp với tình huống cụ thể, như vậy mới có khả năng mang lại thàng công.

Ngày nay, tìm được người tài đức như Quản Trọng rất khó, nhưng không phải không có, nhưng rồi được mấy ai biết dùng người như Tề Hoàn Công chăng? Liệu bạn có dám phó thác công việc cho một nhân viên là người đã từng làm việc cho công ty đối thủ? Hay người mà CV toàn toàn các dự án thất bại? Tề Hoàn Công đã làm thế khi ông trọng dụng Quản Trọng!

Nguồn tham khảo:

  • Đông Chu Liệt Quốc – Phùng Mộng Long
  • Đạo Đức Kinh – Lão Tử
  • Gương Danh Nhân – Nguyễn Hiến Lê
  • Sử Ký Tư Mã Thiên – Tư Mã Thiên
  • http://kdtqt.duytan.edu.vn/…/cac-dang-phong-cach-lanh-dao-c… http://changingminds.org/…/leadership/styles/lewin_style.htm https://www.careerlink.vn/…/su-dung-cac-phong-cach-lanh-dao… (Và một số nguồn tư liệu khác)