Lũy tre làng
Một trong những nét đặc trưng của làng quê Việt Nam là hình ảnh cây đa, giếng nước, sân đình. Đó là những hình ảnh tiêu biểu, thân thuộc ở mỗi làng quê Việt. Tuy nhiên, nói tới làng mà thiếu đi hình ảnh lũy tre đầu làng hoặc cuối xóm thì thật là thiếu xót cho mỗi ai đã từng sinh ra và lớn lên ở làng quê như tôi chẳng hạn.
Lũy tre làng là ranh giới hành chính của một xóm, một ô hoặc một ấp nằm trong địa bàn một xã, ở trong lũy tre làng ấy có khoảng vài chục, vài trăm hộ hoặc nhiều hơn thì một hai nghìn hộ dân sinh sống ở đó. Bên ngoài lũy tre làng là cánh đồng canh tác lúa, bắp, mía, mì của người dân thôn quê.
Những hình ảnh quen thuộc ở làng quê vào mùa vụ, ta thường thấy các bác nông dân ra đồng, trên vai thường vác cái cày, đi trước là con trâu. Những buổi trưa hè, trời nắng nóng, trên đường đi làm về, tới đầu làng, các bác nông dân thường buộc con trâu vào bụi tre, cho nó trú nắng, còn các bác xúm lại, ngồi bệt trên tàu lá chuối vừa cắt trên cây, rồi phì phà vài điếu thuốc. Sau mỗi buổi làm việc đồng áng về, được ngồi nghỉ ngơi hóng mát dưới lũy tre làng trưa hè thì thật là thú vị. Các cụ ví: “Trăm thằng hầu không bằng đầu ngọn gió”. Gió đâu thổi về mà mát vậy, chỉ có ngồi ở lũy tre đầu làng mới mát đến thế!
Tuổi thơ tôi có nhiều kỷ niệm sâu lắng về lũy tre làng. Đi xa, mỗi lần về thăm quê, nhìn thấy lũy tre làng lại thấy lòng bồn chồn, rạo rực. Những thảm xanh vươn lên trời mây, sừng sững, bề thế, vững chãi và rất gần gũi. Trước nhà tôi có hai bụi tre. Mỗi buổi trưa hè thật là sảng khoái, thanh thản khi nằm trên võng đung đưa dưới hàng tre. Gió từ đồng xa thổi về mát lộng. Tiếng gió xạc xào trên lũy tre cứ đi dần vào giấc ngủ, êm đềm như lời ru. Những hôm thả diều ở đồng xa, tôi vẫn nhìn ngắm lũy tre làng mình. Chộn rộn nhất là lúc hoàng hôn, khi những áng mây chiều chuyển màu vàng đậm hoặc hồng tươi, sắc tím hoàng hôn như từ lũy tre làng ùa ra, chen lẩn với khói cơm chiều lan tỏa thành một màu lam tuyệt đẹp. Ai đó đã gọi đó là khói lam chiều.

Vâng, làng và lũy tre gắn bó với tôi như vậy đó. Bao đời nay, lũy tre làng vẫn tồn tại như một biểu tượng của văn hóa làng, một thứ không thể thiếu trên mỗi làng quê nước Việt.

Thế nhưng, trong vài thập niên qua, mỗi lần về quê tôi cứ thấy thiếu vắng một cái gì đó. Trong nỗi nhớ da diết thời tuổi thơ có nỗi nhớ lũy tre làng. Đúng thế! Lũy tre tự bao đời bao bọc, chở che cho làng tôi giờ đây chỉ còn trong ký ức. Lớp trẻ sau này ở quê tôi lớn lên chắc không thể nào hình dung ra lũy tre làng. Về quê bây giờ từ phía xa nhìn không còn thấy lũy tre bề thế vòm xanh nữa. Người ta chặt tre để có đất thay đổi cây trồng, làm ao nuôi thủy sản, phát triển kinh tế gia đình. Người ta chặt tre, lấp cát, đắp nền bán đất. Làng tôi nay đã dần dần đô thị hóa. Người ta chặt hết các bụi tre để xây dựng nhà mới. Thay vào nhà tranh, nhà lá, nhà ngói ba gian khiêm tốn dưới lũy tre là những nhà đúc gạch, nhà mái bằng đổ tấm bê tông. Lũy tre làng thân thương và gắn bó, nay còn đâu?… Với quá trình đô thị hóa như hiện nay rất nhiều làng sẽ không còn nữa. Nó sẽ thành ngách, thành ngõ, thành phố. Đó là điều cần phải chấp nhận. Tuy thế, không thể cấm người ta xót xa khi những hàng cau, những ao làng, những lũy tre… những thứ làm nên làng quê Việt Nam cứ mất dần, mà mất một cách vô lý, mất đến tàn bạo trong khi không đến nỗi phải thế chỉ vì chính chúng ta. Ôi! Hình ảnh lũy tre làng mai sau chắc chỉ còn tìm thấy trong những thước phim tư liệu, trong thơ ca, và trong các trang văn… mà thôi!