Trong văn hóa các nước Á Đông và nhiều câu chuyện văn học dân gian, ít nhiều chúng ta sẽ nhìn thấy hình ảnh của những loài linh thú, mang dáng vẻ quyền uy đem lại sự chở che và bảo vệ cho con người. Những loài linh vật ấy gọi chung là Tứ Linh thú, là một nét đặc sắc trong nền văn hóa phương Đông. Vậy tứ linh là gì? Vì sao tứ linh lại trở thành nét văn hóa đặc sắc của văn hóa phương Đông?

Tứ Linh là gì?
Tứ Linh, hay Tứ Đại Linh Thú là một từ dùng để chỉ nhóm chung 4 loài sinh vật huyền ảo, xuất hiện dày đặc trong truyền thuyết văn hóa Á Đông, gồm có Long (Rồng), Lân (Kỳ Lân), Quy (Rùa), và Phụng (Phượng Hoàng). Trong đó, Long, Lân và Phụng là ba sinh vật huyền bí xuất phát từ trí tưởng tượng của con người.
Từ xa xưa, người Á Đông cổ đại đã có một niềm tin vô cùng mãnh liệt vào sự che chở của tứ linh. Với những đặc tính riêng biệt, tứ linh đóng một vai trò quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng tâm linh của người Việt nói riêng và cả khu vực Đông Á nói chung. Mỗi loài linh thú lại tượng trưng với một đức tính khác nhau, bao phủ toàn bộ đời sống tinh thần của con người. Trong đời sống thường nhật, ta vẫn có thể bắt gặp hình ảnh tứ linh tồn tại trong các công trình kiến trúc truyền thống, mang theo gửi gắm về cuộc sống an lành của loài người dưới sự bảo hộ của linh thú.
Tứ linh thú gồm những loài linh thú nào?
Long:
Cũng giống như truyền thuyết ở Châu Âu, rồng là loài vật đứng đầu tứ linh, với quyền uy tuyệt đối, được mệnh danh là con của trời. Rồng là loài vật liêm chính, ngay thẳng và chiến đấu bảo vệ con người trước hiểm nguy. Từ xa xưa trong những câu chuyện truyền thuyết, loài Rồng đã được dùng để gắn liền với quyền uy tuyệt đối của thần thánh, sau này trở thành biểu tượng của vua- tức là thiên tử.
Theo nhiều nguồn mô tả, rồng châu Á là loài động vật gần họ với cá sấu, thân thuôn dài và không có vảy. Rồng thường có bốn chân, mỗi chân lại có 3 chi. Bên cạnh đó, Rồng có bộ hàm lớn, với hàm nanh hung tợn và chiếc vòi uốn lượn. Nhìn chung là Rồng châu Á thường xuất hiện trong hình tượng uốn lượn, với đôi mắt sắc bén nhìn vào người đối diện. Phía trước rồng thường có viên ngọc, ở Việt Nam thường điêu khắc hình tượng rồng ngậm ngọc, còn ở các nước Đông Á thì để Rồng dùng chân quắp lấy.
(Loài rồng trong tranh vẽ Trung Quốc và Nhật Bản hay Hàn Quốc đều khắc họa viên ngọc ở chân rồng)
Theo tín ngưỡng dân gian, Rồng là loài vật đứng đầu tứ linh thú, đại diện cho sự khởi sắc, quật cường.Từ đó con người bắt đầu cầu nguyện đến Rồng để cầu mong sự khởi sắc, làm ăn mua bán thuận lợi, tai qua nạn khỏi… Vào thời nhà Lý, hình vẽ loài Rồng thanh mảnh, uốn lượn như mây, người dân cũng theo đó mà tổ chức lễ cầu mưa.
Cũng chính vì quyền uy của mình, Rồng dần xuất hiện trên họa tiết chạm trổ và họa tiết trên áo gấm của vua, ý chỉ vua cũng chính là con của trời, mang sự mệnh bình quân trị nước, quyền uy tuyệt đối nằm trong tay vua. Từ triều đại nhà Trần, thủ lĩnh của tứ linh không chỉ xuất hiện ở nơi trang nghiêm, loài rồng còn được chạm khắc ở chùa chiền, cụ thể là bậc thềm như chùa Phổ Minh. Bên cạnh đó, vị thần đứng đầu tứ linh này còn được điêu khắc thành những bức tượng được dựng trước cung đình, đền, chùa, như một biểu tượng bảo vệ tuyệt đối những nơi linh thiêng này.

(Mẫu áo Long Bào của nhà vua triều Nguyễn có thêu hình rồng)
Trong kho tàng lịch sử văn học dân gian Việt Nam, chúng ta có thể thấy hình tượng loài rồng xuất hiện rất nhiều, có thể nói là nhiều nhất trong bốn loài linh thú thuộc tứ linh. Từ truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích đến cả những tư liệu lịch sử cũng có dấu ấn của loài Rồng. Tương truyền, vua Lý Thái Tổ vì nhìn thấy rồng bay lên mà quyết định ban chiếu dời đô, dời về Đại La và đổi tên thành Thăng Long (tức rồng bay lên). Trong tín ngưỡng dân gian, người dân cũng tin rằng dưới lòng đất là long mạch, tức mạch máu của rồng, nên có những vùng đất không thể canh tác, hoặc phải hết sức cẩn thận để tránh làm mất đi vượng khí của rồng.
Truyền thuyết Việt Nam cũng nhiều lần nhắc đến loài Rồng, như nhắc nhở con người về quyền uy của loài linh thú này vậy. Nổi bật nhất có lẽ là hình ảnh Lạc Long Quân, vốn là một vị thần Rồng cai quản miền sông nước, đã kết duyên cùng mẹ Âu Cơ và sinh ra 100 người con, bắt đầu một giai đoạn mới của loài người.

(Hình tượng Rồng đã xuất hiện trong truyện con rồng cháu tiên)
Lân:
Là loài linh thú tượng trưng cho sự bảo vệ, Lân được xem là điềm lành, đem lại sự thanh tẩy, xua đuổi tà khí và bảo vệ gia chủ. Lân cũng được xem là một loài động vật hiền lành, thường có những tương tác với loài người, có thể nói là Lân là loài linh thú thân thiện nhất trong bộ tứ linh thú xuất hiện trong tín ngưỡng Việt Nam. Hình tượng của Lân được gắn liền với thái bình thịnh thế, thường xuất hiện dưới những vầng mây.

(Múa lân được xem là hoạt động mang lại điềm lành trong các dịp lễ quan trọng tại Việt Nam)
Theo PGS Trần Trọng Tín, vị thần thuộc tứ linh này có xuất xứ vốn là con sư tử, được linh hóa và mang dáng vóc của vị thần. Ở Trung Hoa, do sự tiến cống sư tử từ các nước Ba Tư ở Tây Á, người Trung Hoa xưa đã ví von sư tử như là vị thần, gọi chúng là Lân. Sau này, các nước Đông Nam Á theo Phật Giáo, cũng xem sư tử là thượng thú, đại diện cho sức mạnh, quyền lực và chân lý. Từ đó, người ta đã linh hóa loài vật này, đặt cho cái tên Kỳ Lân, xếp vào hàng tứ linh thần thú.
Theo Đại Nam Quốc Âm tự vị, tên gọi Kỳ Lân thực chất đều chỉ loài Lân, nhưng với 2 giới khác nhau: Kỳ được dùng để chỉ loài lân đực, còn Lân thì chỉ giống cái. Loài Lân được miêu tả là mang dáng vẻ của sư tử, với một cặp sừng trên đầu giống hươu, bộ bờm oai dũng, mình nai và có vảy như vảy cá.
Đối với tín ngưỡng người Việt, Lân thường ít xuất hiện trước mặt con người, chính vì vậy đôi khi sự tồn tại của Kỳ Lân là một điều bí ẩn, gắn liền với sự trang nghiêm của cung đình, hoặc các đền chùa miếu mạo mới xuất hiện hình Lân với dáng vẻ oai nghiêm cùng chiếc bờm lớn. Trải dọc miền Tây nơi người Hoa mang theo văn hóa thờ cúng tứ linh, ta sẽ bắt gặp các bức tượng điêu khắc Lân ở khổ lớn, thường được trưng bày theo cặp dựng trước cửa nhà. Bên cạnh đó, hình Lân còn xuất hiện trên lư hương, trên lưng của Lân thường mang theo cổ đồ hoặc bát quái, được sử dụng trong đền thờ cung đình. Tương truyền, Lân hay Nghê là loài linh thú thích ánh lửa và hương thơm, vì vậy khi làm lư hương đồ cúng, người ta cũng chú trọng điêu khắc hình Lân, thể hiện sự kính trọng.

Đối với tín ngưỡng dân gian Việt Nam, con Nghê mới là loài linh thú thuần việt, có phần giống với Kỳ Lân Trung Hoa. Tuy nhiên, theo nhiều khảo sát, con Nghê mang dáng điệu hiền lành, gần gũi với đời sống tâm linh của người Việt nhiều hơn. Theo ông Bùi Ngọc Tuấn, trong đời sống dân gian thì con trâu và con chó là hai loài vật gần gũi gắn liền với đời sống của họ nhất. Trong đó thì chó không chỉ là giữ nhà, nó còn mang ý nghĩa tâm linh khi giúp gia chủ xua đuổi tà khí. Chính vì vậy, con nghê như một sản phẩm kết hợp giữa loài sư tử trong Phật Giáo, vừa có nét gần gũi, hiền lành của loài chó.
Trong khu vực Đông Nam Á, bên cạnh Việt Nam thờ cúng loài Lân, thì quần đảo Bali cũng thờ cúng loài Lân, vị linh thú trở thành thần thú nổi tiếng mang tên Barong. Tương truyền, Barong là vị thần thú xua tan bệnh tật, che chở con người trước pháp thuật của mụ phù thủy Rangda độc ác.
Quy:
Là loài linh thú có thật trong bộ tứ linh thú, Quy hay Rùa thường được gắn với hình tượng trường sinh bất lão, từ đó mà tín ngưỡng tâm linh đã gán ghép những tri thức cổ xưa và sự tinh thông, tường tận với hình tượng Quy. Trong lịch sử dân gian, Quy là loài linh thú duy nhất trong bộ tứ linh thường xuất hiện báo mộng và giúp đỡ cho nhiều đời đế vương, từ việc bảo vệ thành lũy, cho đến việc ban vũ khí để bảo vệ bờ cõi.
Lần đầu tiên mà thần Rùa giáng thế là vào thời An Dương Vương (257-208 trước Công Nguyên). Khi đó, thần Rùa đã giúp đỡ An Dương Vương xây dựng thành lũy, người còn ban cho vua một chiếc móng đẽo thành chiếc nỏ thần, giúp vua bảo vệ đất Âu Lạc.
Lần thứ hai thần Rùa ra tay giúp đỡ là khi Lê Lợi chuẩn bị khởi nghĩa Lam Sơn. Khi đó, thần hiện ra và trao cho Lê Lợi một thanh bảo kiếm, giúp ông bình định giặc Minh. Đến khi thái bình thịnh thế, một hôm Lê Lợi đang du thuyền trên hồ Tả Vọng thì vị linh thú này đã trồi lên mặt nước đòi lại thanh kiếm. Hình ảnh Lê Lợi trao trả lại thanh bảo kiếm cho thần Rùa đã được nhân dân ghi nhớ, sau đổi tên hồ Tả Vọng thành Hồ Hoàn Kiếm, nay là Hồ Gươm tại Hà Nội.
Trong văn học dân gian Việt Nam cũng có nhiều sự tích và thành ngữ nhắc đến hình tượng con rùa, nhất là thành ngữ thường ví von sự già đời, chậm rãi của rùa với trí khôn và sự chín muồi của tri thức. Chúng ta có câu Linh Quy Hạc Phát, ý chúc trường thọ như loài rùa, vẻ ngoài dù đã già vẫn thanh thoát như bộ lông trắng của loài Hạc. Trong sự tích cây Phướn, rùa được nhắc đến như một loài vật vong ân bội nghĩa, suốt đời phải đi dưới thấp. Có lẽ vì thế mà ca dao tục ngữ cũng có nói:
“Thương thay thân phận con rùa
Lên đỉnh cõng hạc xuống chùa đội bia”
Theo cổ sử Trung Hoa, vào hồi đại thủy tràn khắp cả nước, vua Hạ Vũ (2205-2198 TTL) đi trấn nước lụt, đào sông khai ngòi cứu cả trăm họ, bấy giờ có thần Quy hiện lên ở sông Lạc, mang trên mình những vạch chữ kỳ lạ nên bắt chước mà xếp ra cừu trù, đấy là nguồn gốc các mối luân thường và chính trị. Bên cạnh đó, sử sách Trung Hoa cũng thường nhắc đến vai trò của Rùa trong việc bình ổn thế giới: Nữ Oa đã cắt bốn chân rùa để tạo thành bốn cực của thế giới, trong khi đó ở Ấn Độ, rùa là hóa thân của thần Vishnu, vị thần có công sáng tạo và phát triển thế giới quan vật chất.
Tuy vậy, trong bốn loài linh thú thuộc tứ linh, Rùa là loài linh thú duy nhất mang cả hai ý nghĩa tích cực và tiêu cực. Một mặt, vị thần tứ linh này đại diện cho sự ổn định, tri thức cổ xưa và cả trí khôn của những bậc đại phu đi trước. Tuy vậy ở phương diện khác, hình ảnh rùa gắn liền với lũ lụt, đôi khi người dân ở ven miền sông nước còn chống lại việc thờ Rùa bởi Rùa gắn liền với những trận bão lũ.
Phụng:
Trong bốn loài tứ linh thú, phượng hoàng (phụng) là loài linh thú duy nhất gắn liền với hình ảnh cân bằng của vũ trụ. Từ xa xưa, con người đã gọi phượng hoàng là vua của các loài chim, báo hiệu điềm lành và là đại diện của sự tái sinh.
Tư Mã Thiên trong bộ Sử ký nổi tiếng đã ghi rằng: “Năm Tân Mão thứ sáu (năm 1110 TCN) đời Thành Vương nhà Chu, họ Việt Thường thị ở bộ Giao Chỉ sai sứ dâng chim trĩ trắng. Sứ giả không thuộc đường về, Chu Công cho 5 cỗ xe làm theo lối chỉ nam theo đường ven biển về nước, đi tròn năm mới về đến nơi”. Chim trĩ trắng sau đó mới chuyển hóa thành hình tượng phượng hoàng, loài chim tượng trưng cho sự đoan trang, cao quý và sắc đẹp của người phụ nữ. Cũng từ tích này, trong bộ tứ linh thú, phượng hoàng là linh thú cai trị phương Nam.

(Nhiều người cho rằng, hoa văn chim Lạc xuất hiện trên trống đồng Đông Sơn là hiện thân của chim phượng hoàng)
Phượng hoàng có 5 màu sắc tượng trưng cho năm đức tính: ngay thẳng, lương thiện, công bằng, chung thủy và lòng khoan đại. Phượng hoàng xuất hiện là báo hiệu điềm tốt lành, đó là lúc xã hội thái bình có thánh nhân hoặc hiền triết xuất hiện, hoặc có vua hiền sáng suốt, chế độ công bằng, lấy đức mà trị dân và dân chúng thuần phục thì chim phượng sẽ từ trên trời bay xuống chúc mừng và điều khiển nhân loại.
Ngoài ra, thân chim phượng còn mang năm màu của Ngũ hành là đen, trắng, đỏ, xanh và vàng, đồng thời tượng trưng cho sáu yếu tố bao hàm cả vũ trụ: đầu là bầu trời, mắt là Mặt trời, lưng là Mặt trăng, cánh là gió, chân là đất và đuôi là các hành tinh… Chính vì vậy phượng hoàng múa là biểu trưng của vũ trụ đang vận hành.
Cũng giống như Lân, Phượng Hoàng thường ít xuất hiện trước mặt con người, vị thần điểu này thường được cho rằng chỉ xuất hiện bay lượn trong những ngày lễ tạo trời tạo đất, hoặc bay về đỉnh núi, nơi các vị đại sư đang tu luyện. Đối với người Việt, vị thần điểu thuộc bộ tứ linh này là loài vật xuất hiện như thể hiện ý nghĩa thuận hòa, báo hiệu sự chuyển mình của vũ trụ diễn ra như một lẽ tự nhiên. Vua Lý Thái Tông cũng từng ví von hình ảnh phượng hoàng nhảy múa cũng giống như “các sao không đi trái, sấm mưa không lung tung”.
Thực ra trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, phượng hoàng là loài thần thú tứ linh xuất hiện từ rất sớm, có thể nói là cùng giai đoạn với loài Rồng. Nếu Rồng đại diện cho quyền lực, thì phượng hoàng vốn mang ý nghĩa là điềm lành, báo hiệu sự cân bằng của vũ trụ đang được diễn ra. Trên họa tiết trống đồng Đông Sơn, hình tượng chim Lạc đã ít nhiều thể hiện sự tương đồng với phượng hoàng, thể hiện niềm tin vào điệu múa của loài thần điểu, cũng phần nào tiết lộ niềm tin vào tín ngưỡng vạn vật hữu linh, chi phối niềm tin con người thuở đầu của nền văn minh.
*Phụng bào của hoàng hậu triều Nguyễn được thêu chim phượng hoàng đầy tinh xảo)
Trong kiến trúc Việt Nam, có thể thấy ở các khu vực chùa chiền, cung đình ở Huế đều ít nhiều mang dấu ấn của phượng hoàng. Nếu Rồng là đại diện của thiên tử, thì Phượng Hoàng, với địa vị cao quý của mình, đã nghiễm nhiên thể hiện quyền lực của phái nữ. Hình ảnh phượng hoàng xuất hiện ở khắp mọi nơi gắn liền với Hoàng Hậu, từ áo bào, khung ghế. Các phi tần của vua tùy theo cấp bậc sẽ giảm dần về độ tỉ mỉ, công phu khi thêu hình chim phượng hoàng.